Quay lại

Thông báo 68-TB/VPTW năm 2026 kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm việc với Đảng ủy Bộ Y tế về phát triển ngành Y học cổ truyền Việt Nam do Văn phòng Ban Chấp hành Trung ương ban hành

BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG
VĂN PHÒNG
*

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
---------------

Số 68-TB/VPTW

Hà Nội, ngày 26 tháng 5 năm 2026

THÔNG BÁO

KẾT LUẬN CỦA ĐỒNG CHÍ TỔNG BÍ THƯ, CHỦ TỊCH NƯỚC
TẠI BUỔI LÀM VIỆC VỚI ĐẢNG ỦY BỘ Y TẾ VỀ PHÁT TRIỂN NGÀNH Y HỌC CỔ TRUYỀN VIỆT NAM
-------

Ngày 20/5/2026, tại Trụ sở Trung ương Đảng, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã có buổi làm việc với Đảng ủy Bộ Y tế, các ban, bộ, ngành Trung ương[1] về phát triển ngành Y học cổ truyền Việt Nam. Sau khi nghe Đảng ủy Bộ Y tế báo cáo, ý kiến của các cơ quan, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước kết luận như sau:

Việt Nam ta có một nền y học cổ truyền rất đặc sắc, được kết tinh của tri thức, văn hoá, kinh nghiệm và bản lĩnh sinh tồn của dân tộc qua hàng nghìn năm lịch sử; từ tư tưởng "Nam dược trị nam nhân" của Đại danh y Tuệ Tĩnh đến di sản y học đồ sộ của Hải Thượng Lãn Ông, cha ông ta đã để lại một kho tàng y học cổ truyền vô cùng quý giá. Y học cổ truyền của Việt Nam không chỉ chữa bệnh mà coi trọng dưỡng sinh, điều hoà khí huyết, cân bằng âm dương và nâng cao khả năng tự phục hồi của cơ thể.

Đảng ta đã có nhiều chủ trương, chính sách về chăm sóc sức khoẻ Nhân dân, trong đó luôn đề cao việc kết hợp chặt chẽ giữa y học cổ truyền và y học hiện đại[2]. Bộ Y tế, các cấp, các ngành đã đạt nhiều kết quả tích cực; nhận thức về vai trò của y học cổ truyền có chuyển biến; hệ thống khám, chữa bệnh y học cổ truyền tiếp tục được củng cố và mở rộng; nhiều bài thuốc, phương pháp điều trị có hiệu quả được phát huy; công tác phát triển dược liệu, đào tạo nhân lực, kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại có bước tiến bộ. Tuy nhiên, công tác y học cổ truyền vẫn chưa có bước đột phá rõ nét; còn nhiều tồn tại, hạn chế như: Chưa khai thác hết tiềm năng; xây dựng hệ sinh thái phát triển và tạo được thương hiệu, năng lực cạnh tranh quốc gia.

Y học cổ truyền là một lĩnh vực không chỉ liên quan đến công tác bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ Nhân dân, mà còn gắn trực tiếp với giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, phát triển công nghiệp dược liệu, kinh tế sức khoẻ và nâng cao sức mạnh mềm quốc gia trong hội nhập và phát triển. Chúng ta phải bảo tồn, phát huy và nâng tầm y học cổ truyền dân tộc; biến những giá trị, di sản quý báu của cha ông thành nguồn lực quan trọng phục vụ chăm sóc sức khoẻ Nhân dân và phát triển đất nước trong thời kỳ mới.

Để làm tốt việc này, yêu cầu cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể các cấp tập trung thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp sau:

1. Đặt phát triển y học cổ truyền trong tổng thể chiến lược phát triển đất nước giai đoạn mới, nhất là chiến lược phát triển con người Việt Nam, chiến lược bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ Nhân dân; chiến lược phát triển công nghệ sinh học, công nghiệp dược liệu và kinh tế sức khoẻ. Chuyển mạnh tư duy quản lý từ "quản lý chuyên môn y tế" sang "phát triển hệ sinh thái y học cổ truyền quốc gia" gắn với chiến lược phát triển kinh tế sức khoẻ và sức mạnh mềm quốc gia.

Phát huy lợi thế về điều kiện tự nhiên, đa dạng sinh học, nguồn dược liệu, tri thức dân gian và văn hóa dưỡng sinh để phát triển y học cổ truyền thành ngành kinh tế có giá trị tăng cao, góp phần tạo sinh kế, nâng cao thu nhập cho người dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, vùng sâu, vùng xa. Nghiên cứu xây dựng và nhân rộng một số mô hình trung tâm du lịch chăm sóc sức khỏe, khu dưỡng sinh, làng dược liệu, vùng phát triển dược liệu gắn với giảm nghèo bền vững và du lịch sinh thái và bảo tồn văn hóa dân gian.

2. Chuyển mạnh từ tư duy "chữa bệnh" sang "chăm sóc sức khoẻ toàn diện", trong đó phát huy lợi thế của y học cổ truyền và phù hợp với xu hướng y học hiện đại trong phòng bệnh, dưỡng sinh, nâng cao thể trạng, phục hồi chức năng, chăm sóc người cao tuổi, điều trị bệnh mạn tính, chăm sóc sức khoẻ tinh thần. Chính sách tài chính y tế cần có những đột phá để đưa y học cổ truyền thực sự đến với cộng đồng; chuẩn hoá các mô hình chăm sóc sức khoẻ không dùng thuốc như châm cứu, xoa bóp, bấm huyệt ngay tại xã, phường; khuyến khích và lan toả các biện pháp chăm sóc sức khoẻ hiệu quả mà không cần dùng thuốc[3].

3. Đẩy mạnh phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và bảo hộ sở hữu trí tuệ để chuẩn hoá, hiện đại hóa y học cổ truyền Việt Nam. Khẩn trương số hoá kho tàng bài thuốc gia truyền, tri thức y học dân tộc; xây dựng và hoàn thiện Cơ sở dữ liệu quốc gia về y học cổ truyền; tăng cường nghiên cứu, thử nghiệm lâm sàng, chuẩn hoá bài thuốc, vị thuốc, phương pháp điều trị, kiểm soát chặt chẽ chất lượng dược liệu và thuốc cổ truyền. Hỗ trợ bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, phát triển thương hiệu quốc gia đối với các bài thuốc, sản phẩm có giá trị để đủ năng lực tham gia thị trường quốc tế. Tập trung xây dựng các chương trình khoa học, công nghệ trọng điểm quốc gia và củng cố một số trung tâm y học cổ truyền mạnh tầm quốc gia, khu vực, thực sự trở thành "đầu tàu" về nghiên cứu, đào tạo, chuyển giao công nghệ và quảng bá y học Việt Nam ra thế giới[4].

4. Phát triển công nghiệp dược liệu trở thành ngành kinh tế chiến lược quốc gia; bảo tồn, khai thác hiệu quả đa dạng sinh học và nguồn dược liệu quý của Việt Nam, coi đây là lợi thế cạnh tranh quan trọng của đất nước. Phát triển đồng bộ chuỗi giá trị dược liệu từ giống, vùng trồng, tiêu chuẩn, truy xuất nguồn gốc đến chiết xuất, bào chế, sản xuất, xây dựng thương hiệu và xuất khẩu. Khẩn trương quy hoạch các vùng trồng dược liệu trọng điểm theo tiêu chuẩn GAP, đẩy mạnh chế biến sâu theo tiêu chuẩn GMP quốc tế[5]; kiểm soát chặt chẽ chất lượng, khắc phục tình trạng dược liệu giả, kém chất lượng và phụ thuộc nhập khẩu. Tập trung phát triển các dược liệu có giá trị cao, xây dựng thương hiệu quốc gia cho dược liệu và sản phẩm y học cổ truyền Việt Nam, đưa công nghiệp dược liệu trở thành ngành kinh tế có giá trị gia tăng cao và năng lực cạnh tranh quốc tế.

5. Tạo đột phá trong phát triển mô hình y học tích hợp Đông - Tây y theo hướng y học thực chứng. Đông y và Tây y không đối lập mà bổ trợ, hỗ trợ lẫn nhau nhằm mục tiêu cao nhất là nâng cao hiệu quả chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ Nhân dân; khắc phục tư duy hình thức, máy móc; tập trung xây dựng các phác đồ điều trị tích hợp Đông - Tây y được chuẩn hoá trên cơ sở khoa học và thực tiễn lâm sàng, áp dụng thống nhất trong hệ thống khám, chữa bệnh. Đẩy mạnh nghiên cứu, kiểm chứng hiệu quả điều trị bằng các bằng chứng khoa học, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế phù hợp với điều kiện Việt Nam; xây dựng đội ngũ thầy thuốc có khả năng kết hợp hài hoà y lý cổ truyền với thành tựu y học hiện đại.

6. Phát triển đồng bộ hệ sinh thái y dược cổ truyền, nguồn nhân lực chất lượng cao và giữ gìn y đức. Nhà nước giữ vai trò định hướng, hoàn thiện thể chế, kiểm soát chất lượng; đồng thời đẩy mạnh xã hội hoá, huy động các nguồn lực đầu tư phát triển y học cổ truyền. Khuyến khích doanh nghiệp, cơ sở y dược tư nhân tham gia nghiên cứu, chế biến sâu, phát triển hệ thống khám, chữa bệnh và chuỗi cung ứng dược liệu, thuốc cổ truyền chất lượng cao. Có cơ chế phát hiện, bảo tồn, phát huy các bài thuốc gia truyền, phương pháp chữa bệnh quý trong Nhân dân. Tăng cường quản lý nhà nước, kiểm soát chặt chẽ hoạt động hành nghề, chất lượng dược liệu, thuốc và quảng cáo; xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, trục lợi trên sức khoẻ Nhân dân. Đồng thời, nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực y học cổ truyền, xây dựng đội ngũ thầy thuốc vừa giỏi chuyên môn, am hiểu y học hiện đại, vừa giữ vững y đức, thực hiện đúng lời dạy của Bác Hồ: "Lương y phải như từ mẫu".

7. Đẩy mạnh xây dựng thương hiệu quốc gia về y học cổ truyền Việt Nam, gắn với kinh tế sức khoẻ, du lịch chữa bệnh, xuất khẩu sản phẩm và kết hợp sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam[6].

8. Về kiến nghị, đề xuất của Đảng ủy Bộ Y tế nêu trong báo cáo, cơ bản thuộc thẩm quyền giải quyết của Chính phủ, Quốc hội và các bộ, ngành, địa phương; giao Đảng ủy Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan tham mưu trình Chính phủ, Quốc hội hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách về y học cổ truyền; xây dựng trình Chính phủ ban hành Chiến lược phát triển y học cổ truyền Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (hoàn thành trong năm 2026); đồng thời rà soát, nghiên cứu, đề xuất sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các văn bản chỉ đạo của Ban Bí thư về lĩnh vực y học cổ truyền.

Văn phòng Trung ương Đảng xin thông báo để các cơ quan có liên quan biết, thực hiện.

Nơi nhận:

- Các cơ quan, ban đảng Trung ương,

- Các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương,

- Các đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng,

- Văn phòng Tổng Bí thư,

- Lưu Văn phòng Trung ương Đảng. | K/T CHÁNH VĂN PHÒNG

PHÓ CHÁNH VĂN PHÒNG THƯỜNG TRỰC

Nguyễn Thị Thu Hà

[1] Gồm: Các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng: Phạm Thị Thanh Trà, Bí thư Trung ương Đảng, Phó thủ tướng Chính phủ; Nguyễn Thị Thu Hà, Phó Chánh Văn phòng Thường trực Văn phòng Trung ương Đảng; Đào Hồng Lan, Bộ trưởng Bộ Y tế; Nguyễn Kim Sơn, Phó trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương; Phạm Hoài Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc Phòng; Nguyễn Thị Bích Ngọc, Thứ trưởng Bộ Tài chính. Đảng ủy các Bộ: Y tế, Công an, Khoa học và Công nghệ. Các đơn vị: Trung ương Hội Đông y Việt Nam; Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương; Bệnh viện Châm cứu Trung ương; Bệnh viện Y học cổ truyền Bộ Công an; Viện Y học cổ truyền quân đội và Văn phòng Trung ương Đảng.

[2] Chỉ thị số 24-CT/TW, ngày 04/7/2008 của Ban Bí thư về phát triển nền Đông y Việt Nam và Hội Đông y Việt Nam trong tình hình mới; Nghị quyết số 20-NQ/TW, ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân trong tình hình mới; Nghị quyết số 72-NQ/TW, ngày 09/9/2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ Nhân dân; Kết luận số 86-KL/TW, ngày 10/7/2024 của Ban Bí thư về phát triển nền y học cổ truyền Việt Nam và Hội Đông y Việt Nam trong giai đoạn mới.

[3] Bài học kinh nghiệm từ Trung Quốc: Để đưa y học cổ truyền đến với dân chính là việc tích hợp sâu các dịch vụ, kỹ thuật, bài thuốc cổ truyền chính thống vào danh mục chi trả toàn diện của Bảo hiểm Y tế Quốc gia. Khi người dân được chi trả bảo hiểm một cách công bằng, họ sẽ chủ động lựa chọn y học cổ truyền ngay từ cơ sở...

[4] Học tập mô hình của Đài Loan trong xây dựng cơ sở dữ liệu lớn (Big Data) kết nối liên thông giữa Đông y và Tây y, giúp phát hiện, cảnh báo sớm các tương tác thuốc, bảo đảm an toàn tuyệt đối cho người bệnh...

[5] Kinh nghiệm của Hàn Quốc về tiêu chuẩn sâm "K-Herb" cho thấy họ quản lý nghiêm ngặt từ nguồn gen đến dư lượng hóa chất để tạo ra thương hiệu quốc gia cao cấp. Việt Nam có hơn 5.000 loài thực vật và nấm có công dụng làm thuốc, nhiều loại thảo dược quý hiếm, có giá trị cao như: Sâm Ngọc Linh, Sâm Lai Châu, Giảo Cổ Lam, Trinh Nữ Hoàng Cung, Atiso, Đinh Lăng, Kim Tiền Thảo, Diệp Hạ Châu, Quế, Hồi, Nghệ, Ba Kích, Hà Thủ Ô… Ngành công nghiệp dược liệu là một “mỏ vàng” có tiềm năng bùng nổ rất lớn, nếu chúng ta khai thác có hiệu quả.

[6] Trung Quốc có Trung y; Ấn Độ có Ayurveda; Hàn Quốc có Korean Medicine,.. Việt Nam cũng cần có thương hiệu, ví dụ như: Vietnamese Traditional Medicine. Thương hiệu này phải dựa trên 3 trụ cột Bản sắc Việt Nam - Bằng chứng khoa học - Sản phẩm, dịch vụ đạt chuẩn quốc tế.

Tổng quan văn bản

Số ký hiệu68-TB/VPTW
Ngày ban hành26/05/2026
Loại văn bảnThông báo
Ngày có hiệu lực26/05/2026
Nguồn thu thậpCơ sở dữ liệu
Ngày đăng công báo---
Cơ quan ban hành / Người kýVăn phòng Ban Chấp hành Trung ương / Nguyễn Thị Thu Hà
Phạm viTrung ương, Ban Chấp hành Trung ương
Trích yếuNăm 2026 kết luận của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm việc với Đảng ủy Bộ Y tế về phát triển ngành Y học cổ truyền Việt Nam do Văn phòng Ban Chấp hành Trung ương ban hành
Tình trạng hiệu lựcChưa xác định

Chưa có thông tin lược đồ

Văn bản này hiện chưa được cập nhật dữ liệu về lược đồ liên quan.