Quay lại

Quyết định 953/UB-QĐ của UBND tỉnh Bến Tre “Về cơ cấu tổ chức-Quản lý cấp xã và phân công, phân cấp cho xã”

UBND TỈNH BẾN TRE
-------

Số: 953/UB-QĐ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------------------

tỉnh Bến Tre, ngày 30 tháng 10 năm 1985

QUY ĐỊNH TẠM THỜI

của UBND tỉnh Bến Tre “Về cơ cấu tổ chức-Quản lý

cấp xã và phân công, phân cấp cho xã”

Qua một thời gian thực hiện đề án xây dựng xã, phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn xã, thực tiễn đã khẳng định chủ trương củng cố - xây dựng xã, một trong những biện pháp cơ bản để xây dựng huyện và tăng cường cấp huyện là hoàn toàn chính xác được các cấp, các ngành, các địa phương và cơ sở tiếp thu nhanh chóng và thực hiện đạt một số kết quả đầu tiên.

Qua một thời gian thực hiện đề án xây dựng xã, phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn xã, thực tiễn đã khẳng định chủ trương củng cố - xây dựng xã, một trong những biện pháp cơ bản để xây dựng huyện và tăng cường cấp huyện là hoàn toàn chính xác được các cấp, các ngành, các địa phương và cơ sở tiếp thu nhanh chóng và thực hiện đạt một số kết quả đầu tiên.

Qua một thời gian thực hiện đề án xây dựng xã, phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn xã, thực tiễn đã khẳng định chủ trương củng cố - xây dựng xã, một trong những biện pháp cơ bản để xây dựng huyện và tăng cường cấp huyện là hoàn toàn chính xác được các cấp, các ngành, các địa phương và cơ sở tiếp thu nhanh chóng và thực hiện đạt một số kết quả đầu tiên.

Quá trình thực hiện đã bộc lộ nhiều vấn đề cần có chủ trương biện pháp phù hợp, nhằm khai thác, phát huy tính năng động, sáng tạo, tiềm năng, sức mạnh toàn diện của cơ sở. Xác định một cơ chế tổ chức và quản lý đúng, gắn với vấn đề phân công, phân cấp cho xã trở thành động lực, tạo cho cấp xã chủ động - sáng tạo, chỉ đạo thực hiện toàn diện kế hoạch phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn xã. Chỉ có như vậy quy hoạch tổng thể của huyện, quy hoạch kinh tế - xã hội cơ sở năm 1986 và kế hoạch 5 năm (1986-1990) mới có điều kiện thực hiện thắng lợi.

Để thực hiện có hiệu quả hơn nữa Nghị quyết số 10/NQ-TU của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về xây dựng huyện và phân cấp quản lý toàn diện cho cấp huyện và đề án củng cố xây dựng xã, phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn xã.

Uỷ ban nhân dân tỉnh quy định tạm thời Về cơ chế tổ chức, quản lý xã và phân công, phân cấp cho xã.

I. NHỮNG QUY ĐỊNH TẠM THỜI VỀ CƠ CHẾ TỔ CHỨC – QUẢN LÝ CẤP XÃ VÀ PHÂN CÔNG - PHÂN CẤP CHO XÃ:

1. Về xây dựng và thực hiện quy hoạch - kế hoạch phát triển kinh tế - xã hôi.

- Xã nằm trong hệ thống chính quyền 4 cấp của Nhà nước ta. Đã là một cấp chính quyền Nhà nước ở cơ sở, trực tiếp quản lý khu vực đất đai của lãnh thổ, quản lý một lực lượng lao động và địa bàn dân cư nằm trong địa bàn huyện, thì xã phải là một cấp kế hoạch và cấp ngân sách có chức năng chỉ đạo toàn diện về kinh tế - xã hội trên địa bàn xã.

- Là một cấp kế hoạch và ngân sách, xã có trách nhiệm trực tiếp quản lý, khai thác, sử dụng lao động đất đai trên địa bàn xã, chỉ đạo việc xây dựng, quản lý và thực hiện quy hoạch của xã mình, dựa trên phương hướng và sự phân công của quy hoạch tổng thể huyện. Từ quy hoạch, xã có nhiệm vụ chỉ đạo các hợp tác xã và tập đoàn sản xuất nông - ngư - lâm nghiệp, tổ đoàn kết sản xuất vườn; hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp; hợp tác xã mua bán; HTX tín dụng; HTX vận tải; các hộ sản xuất tư nhân và kinh tế gia đình xây dựng kế hoạch trên cơ sở khai thác và cân đối bằng 4 nguồn khả năng. Từ kế hoạch của các đơn vị kinh tế, xã tổng hợp kế hoạch báo cáo HĐND xã phê chuẩn và Uỷ ban nhân dân huyện thông qua.

- Căn cứ vào kế hoạch đã xây dựng, sự chỉ đạo của cấp trên và diễn biến cụ thể, xã chỉ đạo các loại hình kinh tế thực hiện và hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch chủ yếu như: năng suất, sản lượng các loại cây, con; chỉ tiêu sản xuất các loại sản phẩm tiểu thủ công nghiệp cả về số lượng chất lượng và giá thành hợp lý; chỉ tiêu về lao động và hạ tỷ lệ dân số; chỉ tiêu thu mau huy động nông sản – thực phẩm, sản phẩm cây công nghiệp, sản phẩm thuỷ hải sản và các sản phẩm xuất khẩu; chỉ tiêu doanh số mua và bán; chỉ tiêu huy động sử dụng và kinh doanh tín dụng; các nhiệm vụ chỉ tiêu về hoạt động văn hoá - xã hội, giáo dục, y tế, giao thông vận tải và an ninh quốc phòng.

- Quá trình xây dựng và thực hiện kế hoạch, xã cần chỉ đạo các đơn vị sản xuất kinh doanh trên địa bàn xã tiến hành ký kết hợp đồng với các CTy cấp 3 và ngành cấp huyện về đầu tư sản xuất hoặc đầu tư cung ứng vật tư phục vụ sản xuất một cách chủ động; theo dõi giám sat, kiểm tra và có biện pháp tháo gỡ khó khăn để các hợp đồng đó được thực hiện tốt nhất.

- Đồng thời phải gắn kế hoạch với kỹ thuật và hạch toán kinh tế - kinh doanh xã hội Chủ nghĩa, kiên quyết xoá bỏ, quan liêu - bao cấp trong các đơn vị kinh tế tập thể, các đơn vị hợp doanh và cơ sở sản xuất của xã, chuyển sang hạch toán kinh tế và kinh doanh XHCN trong từng loại hình kinh tế, đơn vị kinh tế.

Xã trực tiếp quản lý quy hoạch, tính toán, bố trí sử dụng hết mọi lao động trên địa bàn xã, không để người dân có sức lao động mà không có công ăn việc làm. Huyện cần phân bổ cho xã có nhu cầu, một số ngày công lao động xã hội chủ nghĩa để xã sử dụng mở rộng cơ sở vật chất của xã và tiểu vùng. Thực hiện tốt những quy định phân cấp cho xã về quy hoạch - kế hoạch sẽ góp phần tích cực đổi mới kế hoạch hoá ở cơ sở trên địa bàn Huyện, làm cho kế hoạch sản xuất – kinh doanh của các đơn vị kinh tế trên địa bàn xã có sức sống, năng động và hiệu quả.

2. Về cải tạo và tổ chức lại sản xuất, xây dựng và hoàn thiện 5 loại hình kinh tế tập thể xã hội chủ nghĩa ở xã.

- Từ quy hoạch và kế hoạch, Uỷ ban nhân dân xã có trách nhiệm tiến hành cải tạo – hình thành và từng bước hoàn thiện 5 loại hình kiinh tế xã hội chủ nghĩa ở xã như: hợp tác xã, tập đoàn sản xuất nông nghiệp, ngư nghiệp, lâm nghiệp, tổ đoàn kết sản xuất vườn; Hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp; Hợp tác xã mua bán; Hợp tác xã tín dụng; hợp tác xã vận tải v.v… theo 4 hướng:Một là: chấn chỉnh củng cố đảm bảo tính chất XHCN của từng loại hình kinh tế.Hai là:chỉ đạo thực hiện tốt chỉ tiêu kế hoạch chủ yếu về sản xuất kinh doanh của từng đơn vị kinh tế trên cơ sở ứng dụng khoa học kỹ thuật và sản xuất.Ba là, hướng dẫn các đơn vị kinh tế tổ chức quản lý hạch toán kinh tế - kinh doanh xã hội chủ nghĩa theo nguyên tắc chính sách, quy chế, xoá bỏ tập trung quan liêu bao cấp, đản bảo hiệu quả sản xuất – kinh doanh.Bốn là: lựa chọn bố trí đúng cán bộ phụ trách từng loại hình, từng đơn vị kinh tế cơ sở.

- Xã phải nắm chắc kế hoạch, cơ sở vật chất, tiền vốn, vật tư, lao động, kỹ thuật, hạch toán kinh tế và hiệu quả sản xuất – kinh doanh, cán bộ quản lý điều hành của từng loại hình kinh tế để hướng dẫn giúp đỡ, chỉ đạo kịp thời, tạo điều kiện cho các đơn vị thực hiện được kế hoạch, tháo sỡ được khó khăn lúng túng. Tiến hành điều đặn việc sơ kết rút kinh nghiệm nắm bắt diễn biến số liệu và báo cáo về trên theo định kỳ.

3. Về tổ chức liên doanh sản xuất và liên kết kinh tế:

- Liên doanh sản xuất và liên kết hợp tác kinh tế là một bộ phận của cơ chế quản lý mới, là một trong những nội dung chủ yếu để đổi mới kế hoạch hoá từ cơ sở.

- Nội dung liên doanh sản xuất và liên kết kinh tế của xã như sau:

a) Giữa liên doanh sản xuất và liên kết kinh tế, thì liên doanh sản xuất là phương hướng và nội dung chủ yếu. Vì vậy đã chỉ đạo tập đoàn sản xuất nông nghiệp, tổ chức liên doanh sản xuất giữa các tập đoàn trên đơn vị ấp như: liên doanh các ngành nghề chế biến, liên doanh giống cây – giống con, liên doanh chăn nuôi, liên doanh sản xuất các mặt hàng xuất khẩu, liên doanh khai thác và nuôi trồng thuỷ hải sản, liên doanh trồng cây công nghiệp v.v… nhằm phát triển sản xuất, phá thế độc canh, mở rộng kinh doanh trong các hợp tác xã và tập đoàn sản xuất. Đồng thời tạo tiền đề vật chất để mở rộng quy mô, đưa tập đoàn sản xuất đi lên hợp tác xã nông nghiệp trong thời gian sắp đến.

b) Về liên kết kinh tế thì đối với các mặt hàng nông sản – thực phẩm – sản phẩm cây công nghiệp, sản phẩm thuỷ hải sản và sản phẩm xuất khẩu thuộc danh mục nhà nước thống nhất quản lý, xã không được đem các loại sản phẩm đó đi liên kết kết hợp tác kinh tế dưới bất kỳ hình thức nào, mà phải thu mua huy động giao nộp cho Nhà nước theo kế hoạch. Phần vượt được hưởng tỷ lệ khuyến khích, theo quy định. Đối với các sản phẩm không thuộc danh mục Nhà nước thống nhất quản lý, các hợp tác xã, tập đoàn sản xuất và gia đình nông dân sản xuất, sau khi nộp đủ thuế, làm nghĩa vụ bán sản phẩm theo hợp đồng hai chiều với nhà nước thì được trực tiếp trao đổi với hợp tác xã mua bán, cửa hàng khu vực, trạm kinh doanh, CTy cấp huyện hoặc trực tiếp tiêu thụ tại chợ xã, chợ tiểu vùng, chợ huyện. Trong trường hợp sản phẩm nhiều bao tiêu không hết và để nâng cao hiệu quả và giá trị sản phẩm. Uỷ ban nhân dân xã chỉ đạo hợp tác mua bán xã tìm địa bàn tiêu thụ, dưới hình thức liên kết kinh tế. Trong phạm vi huyện thì hợp tác xã mua bán, xã có thể trực tiếp thực hiện phương án liên kết hợp tác kinh tế đã được ngành chủ quan và Uỷ ban nhân dân huyện duyệt với các đơn vị theo hợp đồng. Nếu ngoài Huyện và ngoài tỉnh thì hợp tác xã mua bán phải thông qua CTy cấp huyện để đưa hàng đi và lấy hàng về theo hợp đồng. Song phải thực hiện đúng các quy định về liên doanh - liên kết kinh tế của Uỷ ban nhân dân tỉnh.

- Khuyến khích hình thức liên doanh sản xuất giữa các xã trong huyện và ngoài huyện để khai thác tiềm năng kinh tế, tạo ra nhiều sản phẩm, nhất là các hình thức liên doanh sản xuất khai thác tiềm năng kinh tế biển (nuôi trồng và khai thác thuỷ hải sản, trồng cây công nghiệp và trồng rừng v.v…).

4. Về xây dựng cơ sở vật chất và các công trình công cộng ở xã và các trung tâm tiểu vùng.

- Phân công, phân cấp cho xã chỉ đạo các đơn vị kinh tế xây dựng, quản lý, khai thác và sử dụng các cơ sở vật chất phục vụ sản xuất như: các công trình thuỷ nông và hệ thống kinh mương, đê đập của xã, các cơ sở giống cây - giống con trong các HTX – TĐSX, tổ đoàn kết sản xuất; hướng dẫn thực hiện kỹ thuật thâm canh, tăng nhanh năng suất – sản lượng các loại cây trồng, vật nuôi; đặc biệt đẩy nhanh tốc độ phát triển sản xuất lương thực – thực phẩm, cây công nghiệp ngành nghề thuỷ hải sản và các mặt hàng xuất khẩu trong các đơn vị kinh tế tập thể, các cơ sở sản xuất của xã và sơ sở kinh tế tư nhân.

- Phân công, phân cấp cho xã chỉ đạo các loại hình và các đơn vị kinh tế xây dựng, quản lý, khai thác, sử dụng cơ sở vật chất các ngành, nghề sản xuất và ngành nghề tiểu thủ công nghiệp như: phương tiện phục vụ đánh bắt và chế biến thuỷ hải sản; phương tiện thiết bị chế biến các loại nông sản, sản phẩm cây công nghiệp – thuỷ sản – lâm sản, sửa chữa cơ khí, công cụ cầm tay sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến hàng xuất khẩu và hàng tiêu dùng; các ngành nghề tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp khác của các đơn vị kinh tế tập thể và kinh tế tư nhân, nhằm khai thác mọi khả năng, đặc biệt khả năng chế biến tại chỗ (theo phân công phân cấp về mặt hàng). Nhanh chóng hình thành màng lưới công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp, nhất là các ngành nghề chế biến, do các cơ sở công nghiệp quốc doanh của huyện, cơ sở công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp của xã, các cơ sở tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp của các đơn vị kinh tế tập thể và kinh tế tư nhân hợp thành, lấy lực lượng quốc doanh làm nồng cốt, đáp ứng nhu cầu chế biến, phục vụ tốt sản xuất và đời sống nhân dân ở từng xã, từng tiểu vùng và trên địa bàn từng huyện.

- Phân công, phân cấp cho xã chỉ đạo các đơn vị kinh tế xây dựng, quản lý, khai thác, sử dụng và phát triển các phương tiện vận tải thuỷ bộ thô sơ và cơ giới, tổ chức thành các hợp tác xã vận tải trên địa bàn xã - ấp. Căn cứ quyết định phân cấp quản lý về phương tiện vận tải cho cấp huyện, Uỷ ban nhân dân huyện quy định cụ thể phương tiện vận tải thuỷ và phương tiện vận tải bộ, loại nào thì huyện quản lý, loại nào giao cho xã quản lý.

- Phân công, phân cấp cho xã xây dựng, cải tạo, quản lý, khai thác phát triển, sử dụng, tu bổ hệ thống lộ liền xã, từ xã về ấp, cùng hệ thống cầu trên các tuyến đường đó. Quản lý các tuyến sông, tuyến đò, bãi đậu xe của xã theo quy hoạch đã xác định. Các tuyến đường của huyện chạy qua xã do huyện quản lý, Uỷ ban nhân dân huyện có thể tổ chức đội duy tu bảo dưỡng của huyện hoặc phân công - phân cấp uỷ thác cho xã duy tu, bảo dưỡng. Cũng có thể kết hợp cả hai hình thức này.

- Phân công - phân cấp cho xã chỉ đạo xây dựng, quản lý, khai thác, phát triển cơ sở vật chất hệ thống truyền thanh, thông tin cổ động, nhà truyền thống, câu lạc bộ, bãi hát, tượng đài, bia lưu niệm, công viên, lực lượng văn nghệ nghiệp dư, trạm y tế, nhà hộ sinh, cơ sở nuôi dạy trẻ, nhà mẫu giáo, trường cấp 1, cấp 2, sân vận động, các cơ sở thể dục thể thao, các đội thể thao nghiệp dư, đường dây điện cao thế - hạ thế, đường dây điện thoại chạy qua xã và máy điện thoại, máy vô tuyến.

- Các cơ sở hạ tầng ở xã trung tâm tiểu vùng cần được quy hoạch cụ thể và xác định trách nhiệm xây dựng, phát triển, quản lý, khai thác, sử dụng đối với từng loại công trình. Loại nào hoàn toàn của huyện, loại nào của các xã trong tiểu vùng và loại công trình của xã trung tâm. Làm rõ trách nhiệm, nghĩa vụ và lợi ích trong xây dựng, quản lý, khai thác, sử dụng (do Uỷ ban nhân dân huyện phân công – phân cấp cụ thể đối với từng tiểu vùng).

- Phân công, phân cấp cho xã chỉ đạo xây dựng, quản lý, khai thác sử dụng các cơ sở vật chất kỹ thuật trong các đơn vị kinh tế tập thể, các loại hình kinh tế (kể cả chợ nông thôn).

5. Về xây dựng cơ sở sản xuất của xã (kể cả cơ sở hợp doanh) theo quy hoạch và kế hoạch:

- Trong bước đi ban đầu của thời kỳ quá độ, vấn đề đẩy nhanh tốc độ khai thác và phát triển các tiềm năng thế mạnh kinh tế, tạo ra nhiều loại sản phẩm với khối lượng lớn, hiệu quả cao, có tầm quan trọng đặc biệt. Đó là nhiệm vụ chủ yếu của các đơn vị kinh tế, trước hết là các đơn vị kinh tế tập thể trên điạ bàn xã.

- Tuy nhiên ở thời kỳ nền quan hệ sản xuất mới đang trong quá trình hình thành, nền kinh tế đang từng bước tổ chức lại, quy mô các HTX – TĐSX còn nhỏ, cơ sở vật chất kỹ thuật còn non yếu, vật tư tiền vốn có hạn, nên mức độ phát triển kinh tế mới có mức độ, chưa đủ sức tổ chức - quản lý khai thác đồng bộ và toàn diện các tiềm năng và thế mạnh kinh tế. Vì vậy, trong khi tập trung củng cố và tạo mọi điều kiện hướng dẫn giúp đỡ các HTX – TĐSX nông nghiệp – ngư nghiệp – lâm nghiệp, tiểu thủ công nghiệp v.v… phát triển sản xuất mở rộng kinh doanh, có thể kết hợp tổ chức các cơ sở sản xuất của xã để sử dụng và khai thác tốt nhất các tài nguyên thiên nhiên, thế mạnh kinh tế tăng thêm sản phẩm cho xã hội, giải quyết số lao động chưa có công ăn việc làm trên địa bàn xã mà từng HTX – TĐSX không thể giải quyết được, tăng thu ngân sách, mở rộng cơ sở vật chất phục vụ sản xuất, phúc lợi công cộng, ổn định và cải thiện đời sống của nhân dân trong xã.

- Với tinh thần đó, cho phép những xã có nhiều tài nguyên thiên nhiên tiềm năng và thế mạnh kinh tế mà HTX và TĐSX nông – ngư – lâm nghiệp tổ ĐKSX vườn, HTX tiểu thủ công nghiệp… không đủ sức sản xuất và khai thác hết: xã có thể tổ chức các cơ sở sản xuất của xã như: các cơ sở công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp chế biến, sản xuất vật liệu xây dựng, sản xuất hàng xuất khẩu, sản xuất hàng tiêu dùng, cơ sở sửa chữa cơ khí và sản xuất công cụ cầm tay, các cơ sở sản xuất, trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, diêm nghiệp, cơ sở nuôi trồng và khai thác thuỷ sản v.v…. Không tổ chức các cơ sở kinh doanh thương nghiệp và dịch vụ. Cũng không tổ chức các cơ sở “sản xuất tự túc”, “tự sản, tự tiêu”, “tự chi, tự thanh” ở xã - ấp như trước đây, mà chuyển hẳn thành cơ sở sản xuất của xã theo tinh thần quy định nầy.

- Cơ sở sản xuất và cơ sở hợp doanh của xã phải tổ chức theo đúng quy hoạch, kế hoạch, quy chế dưới sự chỉ đạo chặt chẽ của Uỷ ban nhân dân xã và thực hiện chế độ hạch toán kinh tế nghiêm ngặt. Phương hướng và kế hoạch sản xuất, kinh doanh phải được HĐND xã phê chuẩn, Uỷ ban nhân dân huyện xét duyệt – thông qua, phải đăng ký kinh doanh, thực hiện hạch toán kinh tế, kinh doanh XHCN, đảm bảo vai trò làm chủ tập thể và lợi ích vật chất của người lao động, giao nộp sản phẩm cho Nhà nước theo hợp đồng kinh tế hai chiều, phần còn lại tiêu thụ nội bộ theo giá quy định của Nhà nước. Quản lý và hạch toán kinh tế chặt chẽ, sản xuất kinh doanh có lãi giao nộp ngân sách và đóng thuế đầy đủ.

- Cơ sở sản xuất và cơ sở hợp doanh của xã có tài khoản và bộ máy quản lý riêng, hợp lý, đặt dưới sự chỉ đạo quản lý toàn diện của Uỷ ban nhân dân xã, sự hướng dẫn, kiểm tra – giám sát của cơ quan chức năng cấp huyện. Vốn xã tự cân đối, Nhà nước không cấp vốn đầu tư.

- Giao cho Uỷ ban nhân dân huyện xét duyêt, tổ chức các cơ quan sản xuất và cơ sở hợp doanh của từng xã phù hợp với quy hoạch và kế hoạch chung của huyện, của từng tiểu vùng, từng điạ bàn. Quá trình xem xét phê chuẩn Uỷ ban nhân dân huyện cần tính toán - cân nhắc và quyết định những cơ sở và ngành nghề nào thì HTX - TĐSX hoặc liên doanh các TĐSX phát triển; loại nào tổ chức thành cơ sở hoặc cơ sở hợp doanh. Nói chung những cơ sở quy mô tương đối lớn, vốn nhiều, quản lý và kỹ thuật có phần phức tạp mà tập đoàn sản xuất hoặc liên doanh tập đoàn chưa có đủ sức thì tổ chức cơ sở sản xuất xã hoặc cơ sở hợp doanh. Những cơ sở quy mô nhỏ,vốn ít, quản lý và kỹ thuật đơn giản, gắn chặt với cơ sở sản xuất của các đơn vị kinh tế tập thể, thì để HTX - TĐSX hoặc liên doanh các tập đoàn tổ chức sản xuất kinh doanh.

- Quá trình vận động phát triển các tập đoàn sản xuất từ quy mô nhỏ đi lên hợp tác xã với quy mô thích hợp, nếu có khả năng và điều kiện mở rộng sản xuất kinh doanh, thì xã có thể chuyển giao cho Hợp tác xã nông nghiệp quản lý một số cơ sở sản xuất, tổ chức thành ngành nghề của hợp tác xã.

- Vì là vấn đề mới, nên mỗi huyện tiến hành làm thí điểm một xã rút kinh nghiệm báo cáo với tỉnh xem xét kết luận rồi mới mở rộng.

6. Về tài chính, ngân sách và tín dụng:

- Xã nằm trong hệ thống chính quyền 4 cấp của Nhà nước ta, xã có chức năng chỉ đạo, quản lý kinh tế, quản lý xã hội, quản lý hành chính, vì vậy xã phải là cấp kế hoạch và cấp ngân sách.

- Xã là cấp ngân sách, cũng phải từ 4 nguồn khả năng cân đối, để thực hiện các chỉ tiêu đã được xét duyệt.

Đầu tư sản xuất kinh doanh, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, phục vụ sản xuất và phúc lợi công cộng, đảm bảo việc ăn, mặc, ở, đi lại, học hành, hưởng thụ văn hoá và sức khoẻ của nhân dân ngày càng tốt hơn là chức năng quan trọng của ngân sách xã.

- Để thực hiện nhiệm vụ và chức năng của ngân sách xã, mức ngân sách xã trong 1 - 2 năm đến phải có từ 300 - 400 ngàn đồng, tiến tới có từ 1 - 1,5 triệu đồng. Xã phải tự cân đối ngân sách, huyện tiến hành phân cấp từng bước ngân sách cho xã, ngân sách xã có tài khoản riêng.

- Uỷ ban nhân dân xã lập dự toán ngân sách xã hàng năm, quản lý và thực hiện thu chi ngân sách ấy sau khi đã được Hội đồng nhân dân thông qua và Uỷ ban nhân dân huyện xét duyệt. Cuối năm báo cáo quyết toán thu chi ngân sách cho Hội đồng nhân dân xã và Uỷ ban nhân dân huyện phê chuẩn.

- Cơ cấu thu ngân sách xã cần được bổ sung phù hợp với tình hình mới đang phát triển ở xã. Phương hướng thu ngân sách xã được xác định:

a) Thu từ các nguồn sản xuất – kinh doanh của các cơ sở sản xuất của xã và các cơ sở hợp doanh do xã trực tiếp tổ chức quản lý.

b) Trích các khoản thu thuế, các khoản do xử phạt vi phạm quản lý thị trường trên địa bàn xã và các khoản thu theo quyết định của Nhà nước. Tuỳ khả năng của Huyện, cần tăng tỷ lệ điều tiết cho NS xã (ngoài tỷ lệ điều tiết theo quy định của TW). Riêng 10% điều tiết về thuế nông nghiệp phải được tính đúng theo giá quy định của Nhà nước.

c) Thu từ nguồn nhân dân đóng góp trong phong trào Nhà nước và nhân dân cùng làm.

A. Các nguồn thu cụ thể quy định như sau:


- Đối với cơ sở sản xuất – kinh doanh, hợp doanh của xã. Sau khi trừ chi phí toàn bộ và trả lương (kể cả khấu hao tài sản cố định) đúng thực chất. Phần thực lãi phải nộp ngân sách xã hết (nếu là cơ sở hợp doanh của xã, lợi nhuận phần của xã đều phải giao nộp ngân sách xã. Chưa trích tỷ lệ phần quỹ phúc lợi của đơn vị kinh tế tập thể: HTX, TĐSX nông nghiệp, tổ đoàn kết sản xuất vườn để đưa vào ngân sách xã. Vấn đề này cần tiếp tục nghiên cứu.


- Thu phần trích nộp 20 – 30 % lãi của HTX mua bán (do huyện quy định tỷ lệ đối với xã) đều để lại hết cho ngân sách xã 100 % không trích để lại huyện 10 % như trước đây.


- Thu thuế công thương nghiệp ngân sách huyện cần điều tiết để lại cho ngân sách xã từ 2 – 6 % (tỷ lệ cụ thể do Uỷ ban nhân dân huyện quy định hàng năm, tuỳ theo khối lượng thu của mỗi đơn vị).


+ Thu hoa chi lệ phí, để lại cho ngân sách xã 100 %.


+ Các khoản thu sự nghiệp, văn hoá do xã tổ chức quản lý để lại cho ngân sách xã 100 %.


- Thu tiền lao động nghĩa vụ XHCN, để lại cho xã từ 10 – 20 % (Sở Tài chánh trình UBND tỉnh có quy định cụ thể và chặt chẽ).


- Thu phạt vi cảnh để lại cho ngân sách xã 100 %


- Thu tiền phạt hoặc tiền bán hàng tịch thu vi phạm quản lý thị trường được trích một phần đưa vào ngân sách xã (Uỷ ban nhân dân tỉnh và Sở Tài chánh sẽ có quyết định cụ thể).


- Thu khuyến khích giao nộp nông sản – thuỷ sản – sản phẩm cây công nghiệp, sản phẩm xuất khẩu, để lại cho ngân sách xã theo tỷ lệ phần trăm giá trị sản phẩm giao nộp (tính theo giá chỉ đạo thu mua của Uỷ ban nhân dân tỉnh). Xã được quyền sử dụng một tỷ lệ ngoại bộ về cung ứng hàng xuất khẩu và được trích để lại kinh phí ngành tiểu thủ công nghiệp để đưa vào ngân sách xã (Uỷ ban nhân dân tỉnh và Sở Tài chánh sẽ có quy định cụ thể).


- Thu trích từ quỹ phúc lợi của các cơ sở sản xuất kinh doanh của TW, của tỉnh và của huyện đóng tại xã (nếu có) (Uỷ ban nhân dân tỉnh và Sở Tài chánh sẽ quy định cụ thể).


- Các khoản thu khác (theo quy định của Uỷ ban Nhân dân tỉnh và hướng dẫn của Sở Tài chánh)


- Các khoản thu do nhân dân đóng góp để phục vụ các công trình phục vụ sản xuất và phúc lợi công cộng, ngân sách xã cần thống nhất quản lý nguồn thu nầy và chi theo đúng kế hoạch đã xác định.


- Theo hướng mở rộng nguồn thu của những quy định trên, các xã nổ lực phấn đấu, tự cân đối ngân sách. Hướng tập trung khai thác để có nguồn thu lớn phải đi từ tổ chức các cơ sở sản xuất kinh doanh và cơ sở hợp doanh của xã, từ mở rộng các hoạt động lưu thông phân phối, thu mua huy động nông sản – thực phẩm – sản phẩm cây công nghiệp – sản phẩm thuỷ sản và xuất khẩu là điều kiện cơn bản để tự cân đối ngân sách.

B. Quy định về chi của ngân sách xã như sau:


- Chi đầu tư mua sắm tài sản cố định để xây dựng mở rộng các cơ sở sản xuất - kinh doanh của xã và đầu tư giúp đỡ HTX - TĐSX nông - ngư - lâm nghiệp - tiểu thủ công nghiệp (không dùng ngân sách đầu tư vốn lưu động).


- Chi đầu tư xây dựng, mở rộng, cải tạo, sữa chữa, bảo dưỡng các công trình thuỷ lợi, giao thông cầu lộ, lưu thông phân phối, các cơ sở y tế, văn hoá, giáo dục, thể dục thể thao và các công trình phúc lợi công cộng do xã trực tiếp quản lý.


- Chi sinh hoạt phí và các khoản phụ cấp khác theo chính sách chế độ Nhà nước quy định cho cán bộ nhân viên công tác ở xã.


- Chi hành chánh


- Chi sự nghiệp văn hoá, xã hội (bổ túc văn hoá, nhà nuôi dạy trẻ, mẫu giáo, y tế, văn hoá, thông tin, truyền thanh, thể dục – thể thao…)


- Chi cứu tế và bảo hiểm xã hội và trợ cấp cán bộ xã gặp khó khăn


- Các khoản chi khác (được quy định về chi ngân sách của Uỷ ban nhân dân tỉnh và Sở Tài chánh).


- Xã được toàn quyền sử dụng kết dư ngân sách năm trước để mở mang các công trình phục vụ sản xuất và phúc lợi công cộng, không tính vào cân đối trong năm kế hoạch hiện tại. Nếu không hoàn thành kế hoạch thu ngân sách thì xã phải chủ động sắp xếp lại các khoản chi để tự cân đối trong năm kế hoạch


+ Phải thu đúng chi đúng quy định. Nghiêm cấm xã tự đặt ra các lệ phí và các quy định riêng bắt dân đóng góp. Ngân sách của xã phải được chỉ đạo, quản lý, giám sát thu chi chặt chẽ của tập thể HĐND, UBND xã, UBND huyện và cơ quan Tài chánh cấp huyện để chủ động ngăn ngừa những việc làm sai trái. Mọi vi phạm nguyên tắc - chế độ thu và chi nhất là những vụ việc tự do tuỳ tiện, tự định ra chính sách, chế độ ngoài quy định của Nhà nước, cưỡng bức, ép buộc nhân dân đóng góp gây ảnh hưởng xấu về chính trị đều phải làm rõ và phải được xử lý nghiêm minh kể cả việc đưa ra truy tố trước pháp luật đối với những trường hợp vi phạm nghiêm trọng.

7. Về xây dựng xã ven biển và xã vùng căn cứ cũ:

Xã ven biển và những xã vùng căn cứ cũ có vị trí chiến lược cả về kinh tế và quốc phòng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, lại là những xã thường bị thiên tai, hậu quả tàn phá của chiến tranh chưa được bao nhiêu, đời sống nhân dân đang gặp nhiều khó khăn cần được đặc biệt quan tâm và có chính sách phù hợp để xây dựng những xã ở vùng này sớm vượt qua những khó khăn trước mắt, động viên địa phương phấn đấu trở thành những đơn vị giàu về kinh tế, đẹp về văn hoá, vững về chính trị và tổ chức, mạnh về an ninh quốc phòng.

a) Tư liệu sản xuất và tài nguyên thiên nhiên ở vùng biển (đất rừng, đất giồng, đất cồn, đất cây công nghiệp bãi nghêu, vùng đánh bắt và nuôi trồng thuỷ hải sản, đất muối v.v…) phải phân bố một cách hợp lý theo hướng ưu tiên cho xã, để nhân dân tiến hành tổ chức sản xuất, đảm bảo đời sống trước mắt và lâu dài. Nơi nào quy hoạch tổng thể của huyện chưa làm rõ cần phải tính toán, bố trí lại phù hợp. Các cơ sở sản xuất tự túc của các cơ quan tỉnh, huyện đang sử dụng đất đai, tài nguyên, sản xuất kinh doanh mà nhân dân trong xã không có hoặc không đủ tư liệu sản xuất đảm bảo cuộc sống, cần phải trả lại tất cả hoặc một phần cho xã để giao cho nhân dân sản xuất (do UBND huyện quyết định cụ thể từng trường hợp).

b) Khai thác các tài nguyên thiên nhiên và nguồn vốn tại chỗ, tổ chức các cơ sở sản xuất của xã, vừa giải quyết lao động chưa có công ăn việc làm tạo ra nhiều sản phẩm gắn liền với tổ chức tốt phân phối lưu thông trên địa bàn xã, để tăng nguồn thu ngân sách xã từng bước đản bảo yêu cầu xây dựng cơ sở vật chất phục vụ sản xuất và phúc lợi công cộng, nhanh chóng đổi mới bề mặt kinh tế, văn hoá - xã hội ở vùng nầy. Đồng thời tăng tỷ lệ điều tiết để lại cho ngân sách xã hoặc trong những năm trước mắt, tạm thời để lại cho xã các khoản thu về các loại thuế trên địa bàn xã (do Sở Tài chánh và UBND huyện quy định cụ thể đối với từng xã). Các công trình thuỷ lợi, giao thông cầu lộ, khai thác nước ngọt, văn hoá - y tế - giáo dục, thể dục, thể thao v.v… trên địa bàn xã, một vài năm đầu Huyện và tỉnh cần tăng tỷ lệ đầu tư hỗ trợ để xã phối hợp sử dụng từ những nguồn vốn và ngày công đóng góp của nhân dân trong phong trào nhân dân và Nhà nước cùng làm mà xây dựng các công trình phục vụ sản xuất và đời sống.

- Triển khai và nâng cao chất lượng hoạt động của các trạm kinh doanh lương thực, trạm thu mua thuỷ hải sản, thu mua các mặt hàng xuất khẩu, cửa hàng thương nghiệp khu vực, xây dựng phòng khám, đội vệ sinh dịch tể và trạm xá khu vực, đội chiếu phim, cửa hàng bán sách báo, bán thuốc khu vực xã ven biển v.v… thiết thực phục vụ sản xuất và đời sống đồng bào.

- Xã phải năng nổ sáng tạo đi từ cải tạo, tổ chức sản xuất, mở rộng kinh doanh để từng bước biến đổi kinh tế và đời sống, không thụ động trông chờ các cấp, các ngành huyện và tỉnh tăng mức đầu tư giúp đỡ, không buông bỏ trách nhiệm, cùng chăm lo vấn đề: ăn, mặc, ở, nước ngọt, đi lại, học hành, hưởng thụ văn hoá và sức khoẻ đồng bào mỗi ngày tốt hơn.

8. Tổ chức bộ máy cấp xã, bố trí biên chế, bổ nhiệm, đề bạt và quản lý cán bộ:

- Tổ chức bộ máy biên chế theo quy định chung. Song nếu có yêu cầu phát triển kinh tế trên điạ bàn xã và mức thu ngân sách được mở rộng, xã được phép bố trí thêm biên chế cho khối chỉ đạo và quản lý kinh tế, tài chính do ngân sách xã trả lương. Cán bộ xã trực tiếp phụ trách các đơn vị sản xuất kinh doanh, do các đơn vị sản xuất trả lương.

- Cần kiện toàn và tăng cường cán bộ cho khối chỉ đạo kinh tế kế hoạch, khối tài chính ngân sách và lưu thông phân phối đủ mạnh. Kiện toàn bộ phận ngân sách xã phù hợp chức năng và nhiệm vụ lớn hơn và phức tạp hơn. Cần có 1 kế toán ngân sách, 1 cán bộ nghiệp vụ kế hoạch, một cán bộ thống kê, một cán bộ lao động được đào tạo bố trí ổn định và đưa vào biên chế Nhà nước cho từng xã.

- Phân cấp cho xã đào tạo và bồi dưỡng bố trí cán bộ theo quy hoạch. Để đề bạt bổ nhiệm từ cán bộ cấp phó trở xuống thuộc hệ chính quyền cấp xã, không thuộc diện dân cử và quản lý sử dụng toàn bộ cán bộ của các khối, các lĩnh vực, các ngành trực thuộc Uỷ ban nhân dân xã.

II. TỔ CHỨC CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN:

1. Các sở, ban ngành cấp tỉnh, căn cứ quy định nầy hướng dẫn cụ thể các huyện và xã thực hiện. UBND huyện và thị xã tổ chức quán triệt sâu sắc cho cấp xã chỉ đạo chặt chẽ cấp xã thực hiện. Ban xây dựng huyện của tỉnh có trách nhiệm giúp UBND tỉnh tổ chức quán triệt và chỉ đạo hướng dẫn, kiểm tra thực hiện thông suốt từ sở ngành tỉnh đến huyện và xã.

2. Những điều quy định trong văn bản này triển khai thực hiện đồng bộ, từng bước và có trọng điểm. Tuỳ sức và điều kiện, khả năng cụ thể của từng xã có mức độ chỉ đạo phân công - phân cấp cho phù hợp.

- Riêng điểm 5 về xây dựng cơ sở sản xuất của xã, mỗi huyện làm thí điểm 1 xã rút kinh nghiệm báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh xem xét, quyết định việc mở rộng. Riêng huyện Chợ Lách và Giồng trôm vì đã có thực tiễn cần rút kinh nghiệm những xã đã làm để mở rộng từng bước vững chắc.

3. Quá trình thực hiện cần kiểm tra giám sát, chặt chẽ, uốn nắn kịp thời, ngăn ngừa bảo thủ, trì trệ của cấp xã, đồng thời tỉnh táo không để xã tự phát và đằng sau sự tự phát là cục bộ - bản vị - tự lợi cá nhân, bất tuân kỷ cương và nguyên tắc.

Quá trình thực hiện, từ thực tiễn sẽ bổ sung, sửa đổi và hoàn chỉnh bản quy định./.

Tổng quan văn bản

Số ký hiệu953/UB-QĐ
Ngày ban hành30/10/1985
Loại văn bảnQuyết định
Ngày có hiệu lực30/10/1985
Nguồn thu thậpCơ sở dữ liệu
Ngày đăng công báo---
Cơ quan ban hành / Người kýUBND tỉnh Vĩnh Long / Lê Minh Đào
Phạm viBến Tre
Trích yếuCủa UBND tỉnh Bến Tre “Về cơ cấu tổ chức-Quản lý cấp xã và phân công, phân cấp cho xã”
Tình trạng hiệu lựcCòn hiệu lực

Chưa có thông tin lược đồ

Văn bản này hiện chưa được cập nhật dữ liệu về lược đồ liên quan.