|
UBND TỈNH HƯNG YÊN Số: 919/QĐ-UBND |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------------------- tỉnh Hưng Yên, ngày 02 tháng 05 năm 2008 |
QUYẾT ĐỊNH
Phê duyệt kế hoạch lập lại trật tự hành lang an toàn
đường bộ, đường sắt trên địa bàn tỉnh Hưng Yên
________________
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND ngày 26/11/2003;
Căn cứ Luật Giao thông đường bộ ngày 29 tháng 6 năm 2001;
Căn cứ Luật Đường sắt ngày 14 tháng 6 năm 2005;
Căn cứ Nghị định số 14/2003/NĐ-CP ngày 19 tháng 02 năm 2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Giao thông đường bộ;
Căn cứ Nghị định số 186/2004/NĐ-CP ngày 05 tháng 11 năm 2004 của Chính phủ quy định về quản lý và bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ;
Căn cứ Nghị định số 109/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đường sắt;
Căn cứ Nghị quyết số 32/2007/NQ-CP ngày 29 tháng 6 năm 2007 của Chính phủ về một số giải pháp cấp bách nhằm kiềm chế tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông;
Căn cứ Quyết định số 1856/QĐ-TTg ngày 27/12/2007 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Kế hoạch lập lại trật tự hành lang an toàn đường bộ, đường sắt;
Xét đề nghị của Sở Giao thông Vận tải tại Tờ trình số 303 /GTVT-TTr ngày 29 tháng 4 năm 2008,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Phê duyệt Kế hoạch lập lại trật tự hành lang an toàn đường bộ, đường sắt trên địa bàn tỉnh Hưng Yên với những nội dung chủ yếu sau:
I. MỤC TIÊU, GIẢI PHÁP THỰC HIỆN
1. Mục tiêu:
a) Nâng cao nhận thức của các ban, ngành chức năng, chính quyền các cấp cùng toàn xã hội về tầm quan trọng của hành lang và quản lý hành lang an toàn đường bộ, đường sắt; việc lập lại trật tự, kỷ cương pháp luật trong việc giữ gìn hành lang an toàn đường bộ, đường sắt trên địa bàn tỉnh.
b) Tạo lập lại, xác định và duy trì hệ thống hành lang an toàn đường bộ, hệ thống hành lang an toàn đường sắt; hoàn thành việc xây dựng hệ thống đường gom, đường đấu nối vào quốc lộ, tỉnh lộ, các đường ngang, công trình phụ trợ bảo vệ hành lang an toàn đường bộ, đường sắt nhằm bảo đảm an toàn giao thông, góp phần giảm thiểu tai nạn giao thông đường bộ, đường sắt trên địa bàn tỉnh Hưng Yên.
2. Giải pháp thực hiện:
a) Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trật tự an toàn giao thông để mọi người tự giác chấp hành; yêu cầu tất cả các cơ quan nhà nước, chính quyền các cấp, các cơ quan thông tin, báo chí, các tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể, trong tỉnh thực hiện thường xuyên, kiên trì và liên tục.
b) Rà soát, phân loại và thống kê các công trình vi phạm nằm trong hành lang an toàn đường bộ, các đường đấu nối trái phép vào quốc lộ và tỉnh lộ; rà soát, phân loại các điểm giao cắt đường bộ với đường sắt để đầu tư, cải tạo, nâng cấp, xây dựng đường ngang có phòng vệ phù hợp với quy định hiện hành; xây dựng rào chắn ngăn cách quốc lộ với đường sắt ở những đoạn quốc lộ chạy sát với đường sắt.
c) Thực hiện cưỡng chế giải toả các công trình đã được bồi thường, công trình tái lấn chiếm mà không tự tháo dỡ và các công trình xây dựng trái phép trong hành lang an toàn đường bộ, xoá bỏ đường đấu nối trái phép vào đường bộ; hoàn thiện mốc chỉ giới hành lang an toàn đường bộ, quản lý bảo vệ phần hành lang an toàn đường bộ đã giải toả, bảo vệ mốc lộ giới; tổ chức giải toả dứt điểm các trường hợp lấn chiếm đất hành lang an toàn đường sắt trong phạm vi đó được đền bù; ngăn chặn việc mở đường ngang trái phép, từng bước xoá bỏ các đường ngang trái phép có nguy cơ gây ra tai nạn giao thông.
d) Thống nhất quy hoạch hệ thống đường gom các khu công nghiệp, khu đô thị, dân cư, các vị trí đấu nối đường gom vào hệ thống quốc lộ phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; thực hiện quy hoạch hệ thống hàng rào đường gom các đường dân sinh, ngăn chặn việc mở đường ngang trái phép.
đ) Rà soát các văn bản của pháp luật về bảo vệ hành lang an toàn đường bộ, đường sắt; đề xuất các nội dung cần điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung nhằm đảm bảo phù hợp với yêu cầu về quản lý, lập lại trật tự hành lang an toàn đường bộ, đường sắt trên địa bàn tỉnh.
II. NỘI DUNG VÀ TIẾN ĐỘ THỰC HIỆN
A. ĐỐI VỚI ĐƯỜNG BỘ
1. Giai đoạn I: Từ nay đến hết quý II năm 2008
- Thực hiện việc rà soát, thống kê đầy đủ, chính xác các công trình sai phạm và công trình cần giải toả trong hành lang an toàn giao thông đường bộ các tuyến quốc lộ, tỉnh lộ trên địa bàn tỉnh, kể cả các đường đấu nối trái phép vào các quốc lộ, tỉnh lộ (Riêng đường huyện, và đường đô thị, Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã xây dựng kế hoạch báo cáo UBND tỉnh).
- Trước mắt đến 30 tháng 5 năm 2008: kiểm tra xác minh, thống kê và phân loại xong các công trình vi phạm hành lang an toàn giao thông đường bộ trong phạm vi từ 5 - 7m (phân loại công trình trên đất đã được đền bù giải toả, công trình trên đất chưa được đền bù giải toả, công trình xây dựng lấn chiếm và các đường đấu nối trái phép vào quốc lộ, tỉnh lộ). Tổng hợp kinh phí hỗ trợ giải toả, kinh phí đền bù giải toả báo cáo Cục Đường bộ Việt Nam, Bộ Giao thông Vận tải và Ủy ban nhân dân tỉnh.
- Đến 30 tháng 6 năm 2008: Tổ chức tuyên truyền vận động các đơn vị, cá nhân tự nguyện tháo dỡ các công trình, lều quán, mái vẩy xây dựng trái phép, vi phạm trên đất hành lang an toàn giao thông đường bộ đã được đền bù, xử lý (Không đền bù, hỗ trợ kinh phí đối với vi phạm này).
2. Giai đoạn II: Từ quý III năm 2008 đến năm 2010
- Đến 31 tháng 12 năm 2008:
+ Hoàn thành việc lập quy hoạch tổng thể các vị trí đấu nối vào quốc lộ, hệ thống đường gom đến năm 2010, thoả thuận với Bộ Giao thông Vận tải trước 31 tháng 12 năm 2008 trình Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt.
+ Xây dựng xong kế hoạch cưỡng chế và giải toả các công trình vi phạm hành lang an toàn giao thông đường bộ trong phạm vi từ 5 - 7m đã được đền bù xử lý, công trình xây dựng lấn chiếm trên các quốc lộ, tỉnh lộ, kể cả việc xử lý các đường đấu nối trái phép vào quốc lộ, tỉnh lộ.
- Đến 31 tháng 3 năm 2009:
+ Thực hiện giải toả các vi phạm hành lang an toàn đường bộ trong phạm vi 5m - 7m đã được đền bù, xử lý, các công trình lấn chiếm, xây dựng trái phép trên tất cả các tuyến quốc lộ, tỉnh lộ và hoàn thành cơ bản việc xoá bỏ các đường đấu nối trái phép vào quốc lộ.
+ Thống kê, phân loại xong các công trình nằm trong hành lang an toàn giao thông đường bộ theo thời gian vi phạm, phân tích theo từng thời điểm tại Nghị định số 203/HĐBT ngày 21/12/1982 của Hội đồng Bộ trưởng; Nghị định số 172/1999/NĐ-CP ngày 07 tháng 12 năm 1999 của Chính phủ; Nghị định số 186/2004/NĐ-CP ngày 05 tháng 11 năm 2004 của Chính phủ và Luật Đất đai trên tất cả các tuyến quốc lộ, tỉnh lộ trên địa bàn.
+ Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã lập dự toán kinh phí phải đền bù, giải toả hành lang an toàn giao thông đường bộ và các công trình làm mất an toàn giao thông báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh qua Sở Tài chính để tổng hợp (Lập dự toán đối với quốc lộ riêng, tỉnh lộ riêng sau đó tổng hợp lại) báo cáo Bộ Giao thông vận tải.
3. Giai đoạn III: Từ năm 2010 đến năm 2020
- Đền bù, giải toả xong hành lang an toàn đường bộ, các công trình ảnh hưởng đến an toàn đường bộ trên địa bàn toàn tỉnh theo Luật Giao thông đường bộ và Nghị định số 186/2004/NĐ-CP ngày 05 tháng 11 năm 2004 của Chính phủ quy định về quản lý và bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ;
- Hoàn thành cắm đầy đủ mốc lộ giới trên tất cả các tuyến quốc lộ, tỉnh lộ bàn giao cho các địa phương quản lý.
B. ĐỐI VỚI ĐƯỜNG SẮT
1. Giai đoạn I: Từ nay đến hết năm 2008
- Thực hiện rà soát, thống kê, phân loại các công trình vi phạm và các công trình gây ảnh hưởng đến an toàn giao thông đường sắt. Tổ chức toàn tuyến vận động nhân dân để mọi người hiểu rõ các quy định của pháp luật về đường sắt, đặc biệt là hành lang an toàn giao thông đường sắt. Vận động các tổ chức, cá nhân tự giác tháo dỡ các công trình xây dựng trái phép trong hành lang an toàn giao thông đường sắt.
2. Giai đoạn II: Từ năm 2009 đến năm 2010
- Hoàn thành quy hoạch tổng thể các vị trí giao cắt giữa đường bộ và đường sắt, hệ thống đường gom, thoả thuận với Bộ Giao thông Vận tải trước tháng 12 năm 2009.
- Tổng hợp kinh phí phải đền bù, giải toả trong hành lang an toàn giao thông đường sắt và các công trình làm mất an toàn giao thông đường sắt.
- Cưỡng chế, giải toả các công trình vi phạm hành lang an toàn giao thông đường sắt đã được đền bù, công trình tái lấn chiếm.
- Cắm đầy đủ mốc lộ giới hành lang an toàn giao thông đường sắt bàn giao cho các địa phương quản lý.
3. Giai đoạn III: Từ năm 2011 đến năm 2020
Thực hiện đền bù giải toả xong hành lang an toàn giao thông đường sắt trên địa bàn.
III. KINH PHÍ THỰC HIỆN
Kinh phí để thực hiện lập lại trật tự hành lang an toàn đường bộ, đường sắt do ngân sách nhà nước bố trí. Nguồn kinh phí này được bố trí để:
- Tuyên truyền, phổ biến pháp luật trật tự an toàn giao thông;
- Thống kê, rà soát, phân loại các vi phạm trong hành lang an toàn đường bộ, đường sắt, diện tích hành lang đó đền bù giải tỏa, diện tích hành lang cần đền bù giải tỏa;
- Thống kê, phân loại các điểm đấu nối với quốc lộ;
- Cưỡng chế, giải tỏa vi phạm hành lang an toàn đường bộ, đường sắt;
- Đền bù, hỗ trợ việc giải tỏa hành lang;
- Xây dựng các công trình phụ trợ đảm bảo an toàn trong hành lang an toàn đường bộ, đường sắt.
1. Đường bộ:
- Giai đoạn 1: Kinh phí hỗ trợ giải toả hành lang an toàn đường bộ, phạm vi từ 5 - 7m đã được đền bù, xử lý trên các tuyến quốc lộ trên địa bàn, các đơn vị quản lý đường bộ, đường sắt tổng hợp báo cáo Bộ Giao thông Vận tải cấp trước ngày 31 tháng 12 năm 2008.
- Giai đoạn 2 và 3: Kinh phí để thực hiện giải toả, lập lại trật tự hành lang an toàn giao thông đường bộ các tuyến quốc lộ trên địa bàn tổng hợp riêng, các tuyến tỉnh lộ tổng hợp riêng báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh trước 31 tháng 3 năm 2009 để báo cáo Bộ Giao thông Vận tải trình Thủ tướng Chính phủ.
2. Đường sắt:
Kinh phí để lập lại trật tự hành lang an toàn giao thông đường sắt gồm: Đền bù, giải toả hành lang an toàn giao thông đường sắt, lập đường gom, xây dựng đường ngang có phòng vệ....báo cáo Bộ Giao thông Vận tải trước 31 tháng 3 năm 2009.
Điều 2. Tổ chức thực hiện
1. Các đơn vị quản lý đường bộ, đường sắt bao gồm: Công ty Quản lý và Sửa chữa đường bộ 240; Công ty Quản lý và Sửa chữa đường bộ 248; Đoạn đường bộ Hưng Yên; Công ty Quản lý đường sắt Hà Hải.
- Chủ trì phối hợp với các huyện, thị xã, các xã, phường, thị trấn rà soát thống kê, phân loại chính xác các công trình sai phạm và công trình cần giải toả trong hành lang an toàn đường bộ, đường sắt mà đơn vị quản lý.
- Thực hiện việc kiểm tra xác minh và thống kê phân loại các công trình vi phạm trong hành lang an toàn đường bộ phạm vi đã được đền bù xử lý, công trình lấn chiếm xây dựng trái phép và các công trình chưa được đền bù giải toả từ 5 - 7m, đề xuất kế hoạch giải toả, kể cả đường đấu nối trái phép vào các quốc lộ, tỉnh lộ trên địa bàn tỉnh xong trước 31 tháng 12 năm 2008, bàn giao cho Ủy ban nhân dân huyện, thị xã (Đường tỉnh ủy thác thì huyện, thị xã thực hiện việc rà soát, thống kê, phân loại), đồng thời báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh qua tổ công tác liên ngành để tổng hợp báo cáo.
- Phối hợp với chính quyền địa phương tổ chức cưỡng chế, giải toả vi phạm.
- Tổng hợp kinh phí hỗ trợ giải toả các công trình vi phạm trong hành lang an toàn đường bộ phạm vi đã được đền bù xử lý và các công trình lấn chiếm xây dựng trái phép trên các tuyến đường được giao quản lý báo cáo cơ quan có thẩm quyền cấp kinh phí.
2. Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã: (Riêng đường sắt: Ủy ban nhân dân huyện Văn Lâm triển khai):
- Chủ trì phối hợp với các đơn vị quản lý đường bộ, đường sắt, rà soát, thống kê, phân loại và xử lý các tồn tại về sử dụng đất trong hành lang an toàn giao thông đường bộ, đường sắt. Chủ trì phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường rà soát lại diện tích đất trong phạm vi hành lang an toàn đường bộ, đường sắt đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cá nhân và tổ chức, có phương án thu hồi diện tích đã cấp.
- Phối hợp với các đơn vị quản lý đường bộ, đường sắt rà soát thống kê, phân loại chính xác các công trình sai phạm và công trình cần giải toả trong hành lang an toàn đường bộ, đường sắt trên địa bàn theo từng thời điểm.
- Dự trù kinh phí hỗ trợ giải toả hành lang an toàn đường bộ trong phạm vi đã được đền bù, xử lý, các công trình tái lấn chiếm và xây dựng trái phép, đề nghị đơn vị quản lý đường bộ trình cấp có thẩm quyền cấp; dự trù kinh phí bồi thường, hỗ trợ các công trình vi phạm phải giải toả theo quy định của pháp luật báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh để báo cáo Bộ Giao thông Vận tải.
- Thành lập tổ công tác liên ngành (Gồm đại diện phòng Hạ tầng kinh tế (phòng quản lý đô thị), phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng Tài chính Kế hoạch, công an huyện, thị xã, UBND xã, phường, thị trấn, đơn vị quản lý trực tiếp đường bộ, Thanh tra giao thông) thực hiện kế hoạch giải toả trên địa bàn, thông báo, tuyên truyền kế hoạch thực hiện giải toả đến cá nhân, đơn vị có công trình vi phạm hành lang an toàn đường bộ. Đối với các công trình đã được bồi thường, giải toả nay tái lấn chiếm, chủ công trình phải tự tháo dỡ và không được đền bù.
- Tổ chức thực hiện cưỡng chế giải toả các công trình đó được bồi thường, công trình tái lấn chiếm mà không tự tháo dỡ và các công trình xây dựng trái phép trong hành lang an toàn đường bộ. Thành lập Tổ cưỡng chế gồm: Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, thị xã (làm Tổ trưởng), Trưởng Công an huyện, đại diện Cơ quan quản lý trực tiếp đường bộ, Thanh tra chuyên ngành.
Tăng cường kiểm tra, xử lý các trường hợp vi phạm hành lang an toàn giao thông và bảo vệ công trình giao thông theo thẩm quyền tại Điều 43 và 44 Nghị định số 186/NĐ-CP ngày 05/11/2004 của Chính phủ quy định về quản lý và bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, nhằm phát hiện sớm, kiên quyết ngăn chặn kịp thời không để vi phạm hành lang an toàn giao thông phát sinh thêm; đồng thời làm việc với cơ quan quản lý đường bộ để nhận bàn giao các công trình vi phạm hành lang an toàn giao thông trên các tuyến đường tỉnh quản lý (đối với đường tỉnh ủy thác, các huyện thị xã tự rà soát thống kê), phân tích theo từng thời điểm tại Nghị định số 172/1999/NĐ-CP ngày 07/12/1999; số 186/NĐ-CP ngày 05/11/2004 của Chính phủ và Luật Đất đai, nhất là công trình vi phạm trong phạm vi đất đã được đền bù để tiến hành xử lý theo Nghị quyết số 32/2007/NQ-CP của Chính phủ.
3. Sở Giao thông Vận tải:
- Tham mưu UBND tỉnh rà soát các văn bản quy phạm pháp luật của tỉnh về bảo vệ HLATGT đường bộ, đề xuất các nội dung cần sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các quy định nhằm hoàn thiện thể chế quản lý trong lĩnh vực này. Triển khai những nhiệm vụ liên quan để thực hiện lập lại trật tự hành lang an toàn giao thông đường bộ. Đôn đốc Công ty Quản lý đường sắt Hà Hải và huyện Văn Lâm tham mưu cho Tổng công ty đường sắt và Ủy ban nhân dân tỉnh hoàn chỉnh bổ sung nâng cấp các đường ngang trên địa bàn tỉnh Hưng Yên.
- Trên cơ sở kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương, phối hợp với các ngành liên quan, UBND các huyện, thị xã lập quy hoạch tổng thể các điểm đấu nối hoặc nâng cấp quy mô đấu nối với tuyến quốc lộ đi qua địa bàn trình UBND tỉnh thoả thuận một lần với Bộ Giao thông Vận tải vào tháng 9/2008; đồng thời dự kiến xây dựng đường gom, đường nội bộ, phối hợp cắm mốc chỉ giới hành lang an toàn đường bộ, đường sắt qua địa bàn. Hoàn thành việc lập quy hoạch tổng thể các vị trí đấu nối vào quốc lộ, tỉnh lộ, hệ thống đường gom đến năm 2010 trước ngày 31/12/2008.
- Khi triển khai các dự án xây dựng mới, nâng cấp, cải tạo tuyến quốc lộ phải triển khai đồng bộ công tác đền bù, giải phóng mặt bằng hết hành lang an toàn đường bộ.
- Tăng cường công tác kiểm tra, xử lý vi phạm trong việc quản lý, bảo vệ hành lang an toàn đường bộ, đường sắt của các đơn vị quản lý đường bộ, đơn vị quản lý đường sắt và chính quyền địa phương các cấp.
4. Sở Tài nguyên và Môi trường:
- Tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh hoàn thiện các quy định về sử dụng đất trong hành lang an toàn giao thông đường bộ, đường sắt.
- Hướng dẫn UBND các huyện, thị xã rà soát, thống kê, phân loại và xử lý các tồn tại về sử dụng đất, các công trình vi phạm trong hành lang an toàn giao thông đường bộ, đường sắt. Tổng hợp toàn bộ tình hình sử dụng đất trong hành lang an toàn giao thông đường bộ, đường sắt sau khi các huyện, thị xã đã có báo cáo rà soát, phân loại và thống kê báo cáo UBND tỉnh. Đồng thời có phương án thu hồi, xử lý diện tích đất trong phạm vi hành lang an toàn giao thông đường bộ, đường sắt đã cấp quyền sử dụng đất, đất thổ cư chưa cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đất các cấp bán trái thẩm quyền.
- Phối hợp với UBND các huyện, thị xã và các cơ quan quản lý đường bộ, đường sắt kiểm tra việc thực thi các quy định của pháp luật về đất đai liên quan đến quản lý, sử dụng và bảo vệ hành lang an toàn đường bộ, đường sắt.
- Phối hợp với UBND các huyện, thị xã rà soát lại diện tích đất trong phạm vi hành lang an toàn đường bộ, đường sắt đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cá nhân, tổ chức, có phương án thu hồi diện tích đã cấp.
5. Sở Xây dựng:
- Chủ trì, phối hợp với các sở, ngành liên quan và UBND các huyện, thị xã rà soát việc thực hiện quy hoạch xây dựng ở các khu công nghiệp, khu dân cư, khu kinh tế - dịch vụ,... dọc theo các tuyến quốc lộ, tỉnh lộ.
- Chủ trì, phối hợp với các sở, ngành và UBND các huyện, thị xã kiểm tra việc cấp giấy phép xây dựng các công trình ven đường giao thông, kiên quyết không cấp phép cho các công trình nằm trong hành lang an toàn giao thông đường bộ, đường sắt, xử lý nghiêm các trường hợp cố tình xây dựng không có giấy phép, vi phạm quy hoạch.
6. Sở Tài chính:
- Chủ trì phối hợp với các sở, ngành liên quan và UBND các huyện, thị xã nghiên cứu đề xuất cơ chế, chính sách bồi thường, hỗ trợ giải toả hành lang an toàn giao thông đường bộ, đường sắt. Đồng thời hướng dẫn việc xây dựng đơn giá đền bù, giải toả theo Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ và Quyết định số 02/2007/QĐ-UB ngày 12 tháng 02 năm 2007 của UBND tỉnh Hưng Yên.
- Tổng hợp kinh phí đền bù, giải toả vi phạm hành lang an toàn giao thông đường bộ, lập lại trật tự hành lang an toàn giao thông đường bộ, đường sắt do UBND các huyện, thị xã lập; tham mưu cho UBND tỉnh bố trí kinh phí thực hiện kế hoạch lập lại trật tự hành lang an toàn giao thông đường bộ, đường sắt trên địa bàn tỉnh.
7. Đài phát thanh và Truyền hình tỉnh, Báo Hưng Yên, Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Sở Tư pháp:
- Đẩy mạnh việc tuyên truyền các quy định của pháp luật về quản lý và bảo vệ hành lang an toàn giao thông đường bộ, đường sắt trên các phương tiện thông tin đại chúng để tạo khí thế mạnh mẽ trong toàn tỉnh, tạo sự đồng nhất trong cộng đồng dân cư đối với việc thực hiện các giải pháp lập lại trật tự hành lang an toàn giao thông đường bộ, đường sắt. Đồng thời tập trung tuyên truyền phổ biến về vai trò, tác dụng của hành lang an toàn giao thông đường bộ, đường sắt cho các cấp chính quyền cơ sở, các tổ chức, cá nhân và mọi người biết và thực hiện.
- Có chương trình, kế hoạch tuyên truyền cụ thể và bằng mọi hình thức, phương pháp để công tác tuyên truyền đi vào chiều sâu và có hiệu quả thiết thực.
8. Ban An toàn giao thông tỉnh:
Phối hợp với các cơ quan thông tin tuyên truyền, Ủy ban mặt trận tổ quốc tỉnh, các tổ chức đoàn thể chính trị, tuyên truyền, phổ biến sâu rộng đến các tầng lớp nhân dân các quy định của pháp luật về quản lý và bảo vệ hành lang an toàn giao thông đường bộ, đường sắt nhằm nâng cao ý thức chấp hành và tự giác chấp hành các quy định đó. Đồng thời kiểm tra, đôn đốc các sở, ngành, đơn vị, UBND các huyện, thị xã thực hiện nghiêm kế hoạch này.
9. Công an tỉnh:
- Chỉ đạo các phòng ban nghiệp vụ liên quan và công an các huyện, thị xã tăng cường lực lượng phối hợp với các huyện, thị xã và Thanh tra giao thông kiểm tra, xử lý các hành vi vi phạm hành lang an toàn giao thông đường bộ, đường sắt.
- Bố trí lực lượng phối hợp với UBND các huyện, thị xã trong việc cưỡng chế, giải toả các công trình vi phạm.
Điều 3. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.
Điều 4. Ông Chánh Văn phòng UBND tỉnh, Giám đốc các sở, ban, ngành; Chủ tịch UBND các huyện, thị xã; Thủ trưởng các đơn vị quản lý đường bộ, đường sắt trên địa bàn tỉnh và Thủ trưởng các đơn vị liên quan chịu trách nhiệm thi hành quyết định này./.