|
UBND TỈNH HÀ TĨNH Số: 90/2005/QĐ-UBND |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------------------- tỉnh Hà Tĩnh, ngày 03 tháng 11 năm 2005 |
QUYẾT ĐỊNH
Ban hành Quy chế hoạt động của Ban chỉ đạo Chương trình Phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em tỉnh Hà Tĩnh
___________________
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND ngày 26/11/2003;
Căn cứ Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND và UBND ngày 03/12/2004;
Căn cứ Quyết định số 130/2004/QĐ-TTg ngày 14 tháng 7 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Chương trình hành động phòng, chông tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em từ năm 2004 - 2010;
Căn cứ Quyết định số 1325/2005/QĐ-NC ngày 04 tháng 7 năm 2005 của UBND tinh về việc thành lập Ban Chỉ đạo Chương trình phòng, chông tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em;
Theo đề nghị của Giám đốc Công an tỉnh - Phó Trưởng ban Thường trực, Ban Chỉ đạo Chương trình phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Ban hành kèm thèo Quyết định này Quy chế hoạt động của Ban Chi đạo Chương trình phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em tỉnh Hà Tĩnh.
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực sau 10 ngày kể từ ngày ban hành.
Điều 3. Giám đốc các Sở; Thủ trưởng các Ban, Ngành; Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các huyện, thị xã; Thành viên Ban Chỉ đạo Chương trình phòng, chông tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em tỉnh Hà Tĩnh chịu trách nhiệm thi hành Quyêt định này./.
TM. ỦY BAN NHÂN DÂN
TỈNH HÀ TĨNH
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH THƯỜNG TRỰC
Trần Minh Kỳ
QUY CHẾ
Hoạt động của Ban chỉ đạo chương trình phòng chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em
(Ban hành kèm theo Quyết định số 90/2005/QĐ-UBND ngày 03 tháng 11 năm 2005 của UBND tỉnh)
_______________
Chương I
QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1. Ban Chỉ đạo Chương trình phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em tỉnh Hậ Tĩnh (dưới đây gọi tắt là Ban Chỉ đạo) được thành lập theo Quyết định số 1325QĐ/UB-NC ngày 04 tháng 7 năm 2005 của ủy ban nhân dân tỉnh về việc thành lập Ban Chỉ đạo Chương trình phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em tỉnh Hà Tĩnh .
Điều 2. Ban Chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ theo quy định tại Điều 2 tại Quyết định số 1325QĐ/UB-NC ngày 04 tháng 7 năm 2005 của UBND tỉnh về việc thành lập Ban Chỉ đạo Chương trình phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nừ, trẻ em, cụ thể là:
- Giúp UBND tỉnh chỉ đạo thực hiện Chương trình hành động phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em.
- Hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra các sở, ban, ngành, UBND các huyện, thị xã thực hiện công tác phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em.
- Tổ chức sự phối hợp giữa các sở, ban, ngành, đoàn thể trong công tác phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em.
Điều 3. Hoạt động của các Thành viên Ban-Chỉ đạo theo chế độ kiêm nhiệm. Các Thành viên có trách nhiệm tổ chức chỉ đạo thực hiện Chương trình phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em theo chức năng nhiệm vụ của Sở, ban, ngành mình và sự phân công của Trưởng Ban Chỉ đạo, bảo đảm sự phối hợp giữa các Sở, ngành, đoàn thể trong công tác phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em.
Chương II
NHŨNG QUY ĐỊNH CỤ THỂ
Điều 4. Trưởng Ban Chỉ đạo thay mặt Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo, điều hành việc triển khai thực hiện Chương trình hành động phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em, phân công các Thành viên trong Ban Chỉ đạo thực
hiện các nội dung trong chương trình, chịu trách nhiệm trước ủv ban nhân dân tỉnh về kết quả hoạt động của Ban Chỉ đạo tỉnh.
Điều 5. Phó Trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo có trách nhiệm giúp Trưởng Ban Chỉ đạo tô chức thực hiện các hoạt động theo kê hoạch của Ban Chỉ đạo; Thay mặt Trưởng Ban Chỉ đạo điều hành công việc do Trưởng ban phân công.
Điều 6. Trách nhiệm của các Uỷ viên Ban Chỉ đạo:
- Đề xuất và tham gia các hoạt động của Ban Chỉ đạo trong việc triển khai thực hiện Chương trình hành động phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em.
- Trực tiếp tổ'chức, chỉ đạo thực hiện Chương trình hành động phòng,
chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em theo chức năng, nhiệm vụ của sở, banngành và những công tác được Ban Chỉ đạo phân công.
- Tham gia phối hợp chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc các Sở, ban, ngành và địa phương thực hiện chương trình, kế hoạch công tác của Ban chỉ đạo.
- Giúp Ban Chỉ đạo theo dõi, tổng hợp tình hình triển khai thực hiện Chương trình hành động phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em theo chức năng, nhiệm vụ của Sở, ban, ngành mình và chuẩn bị nội dung trong các kỳ họp của Ban Chỉ đạo.
- Cử chuyên viên đại diện cho Sở, ban, ngành tham gia bộ phận Thường trực giúp việc Ban chỉ đạo.
Điều 7.Thành lập Bộ phận thường trực giúp việc Ban Chỉ đạo.
Bộ phận thường trực giúp việc Ban Chỉ đạo đặt tại Công an tỉnh do Chánh Văn phòng Công an tinh trực tiếp phụ trách, gồm một số cán bộ chuyên trách thuộc biên chế Công an tỉnh và chuyên viên của một số Sở, ban, ngành liên quan hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm.
- Biên chế, tổ chức và chức năng, nhiệm vụ cụ thể của bộ phận thường trực giúp việc Ban Chỉ đạo do Giám đốc Công an tỉnh - Phó ban Thường trực Ban Chỉ đạo quyết định.
Điều 8.Chế độ hội họp, báo cáo:
Ban Chỉ đạo định kỳ 6 tháng và 1 năm tồ chức họp để nghe báo cáo và đánh giá tình hình thực hiện Chương trình hành động phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em của các Sở, ban, ngành, hoạt động của Ban Chỉ đạo và đê ra các kế hoạch kỳ tới. Các báo cáo tại cuộc họp được gửi đến UBND tỉnh và Chính phủ.
Điều 9. Trường hợp Thành viên Ban Chỉ đạo đi công tác, học tập dài hạn (3 tháng trở lên) hoặc có thay đổi về nhân sự phải báo cáo Trưởng ban Chỉ đạo bằng văn bản để bổ sung kịp thời.
Điều 10.Kinh phí hoạt động của Ban Chỉ đạo và bộ phận Thường trực giúp việc Ban Chỉ đạo 130 tỉnh hàng năm lấy từ kinh phí Chương trình hành động phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em được Ban Chỉ đạo 130 Chính phủ hỗ trợ và ngân sách địa phương được UBND tỉnh phê duyệt.
Điều 11.Ban Chỉ đạo 130 tỉnh thống nhất quản lý kinh phí do ngân sách Nhà nước cấp hàng năm và chuyển về Công an tỉnh để phục vụ cho việc thực hiện Chương trình hành động phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em. Trên cơ sở dự toán kinh phí của các Sở, ban, ngành, bộ phận thường trực giúp việc Ban Chỉ đạo lập dự toán tổng thể và lập kế hoạch phân bổ kinh phí, đề xuất Ban Chỉ đạo duyệt cấp kinh phí cho các Sở, ban, ngành, các địa phương, kiểm tra việc sừ dụng kinh phí theo đúng mục đích và quy định hiện hành./.
CHƯƠNG TRÌNH
Hành động thực hiện phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em đến năm 2010
(Ban hành theo Quyết định số 90 /2005/QĐ-UB ngày 03 tháng 11 năm 2005
của ủy ban nhân dân tỉnh)
________________
A. TỈNH HÌNH TỘI PHẠM BUÔN BÁN PHỤ NỮ, TRẺ EM VÀ CÔNG TÁC PHÒNG NGỪA, ĐẤU TRANH
I. Tình hình tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em
1. Tình hình chung trên toàn quốc.
Theo báo cáo của Chính phủ, trong những năm gần đây, trong giai đoạn chuyển đổi nền kinh tế sang cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, tình hình tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em xẩy ra ngày càng phức tạp, nghiêm trọng và có xu hướng gia tăng. Ngoài một bộ phận nhỏ phụ nữ, trẻ em bị buôn bán ở trong nước, chủ yếu từ các vùng nông thôn, miền núi ra thành phố, thị xã để làm gái mại dâm thì chủ yếu là phụ nữ, trẻ em bị buôn bán ra nước ngoài, đến nhiều nước với nhiều hình thức và mục đích khác nhau. Theo thống kê chưa đầy đủ, đến nay đã có hàng chục ngàn phụ nữ và trẻ em Việt Nam bị buôn bán qua biên giới, chủ yếu qua các con đường mòn và cửa khẩu, trên tuyến biên giới phía Bắc và phía Tây Nam. Qua biên giới giáp Trung Quốc làm mại dâm trong các CO' sở kinh doanh dịch vụ hoặc làm vợ một cách bất hợp pháp; làm mại dâm tại các thành phố lứa và các tinh giáp biên yiới Tây Nam. Các Iiưức này cùn là dịa bàn trung chuyển để buôn bán phụ nữ, trẻ em đi các nước xa hơn trong khu vực. Ngoài ra, tình hình phụ nữ Việt Nam bị dụ dô, lừa gạt, buôn bán sang Đài Loan qua hình thức môi giới hôn nhân, trẻ em Việt Nam bị bán ra nước ngoài đang diễn biến phức tạp và khó kiểm soát.
Theo báo cáo của Công an các tỉnh, thành phố, từ năm 1991- 2002, lực lượng Công an đã phát hiện, bắt giữ và khởi tố 1.818 vụ với 3.118 bị can về tội mua bán phụ nữ; khởi tố 451 vụ, với 672 bị can về tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em. Tệ nạn buôn bán phụ nữ, trẻ em đã trở thành vân đê nhức nhối, ảnh hưởng xấu đến đời sống sinh hoạt, phong tục, tập quán, đạo đức xã hội, pháp luật của Nhà nước, cướp đi hạnh phúc của nhiều gia đình, làm tăng nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS, tiềm ẩn những nhân tố xấu về an ninh-quốc gia và trật tự an toàn xã hội. Các phần tử xấu lợi dụng vấn đề này để nói xấu, tuyên truyền sai sự thật, ảnh hưởng đến uy tín của Đảng và Nhà nước.
2. Tình hình buôn bán phụ nữ, trẻ em trên địa bàn Hà Tĩnh.
Trong những năm qua, tình hình buôn bán phụ nữ, trẻ em trên địa bàn tỉnh cùng diễn biến phưc tạp, có chiều hướng gia tăng. Theo thống kê chưa đầy đủ ở các huyện thị từ năm 1991- 2005 trên địa bàn Hà Tĩnh đã có 46 phụ nữ, trỏ em bị lừa bán ra nước ngoài với nhiều mục đích khác nhau, chủ yếu là bị lừa bán sang Trung Quốc. Trong đó, tập trung nhiều ở vùng nông thôn, điển hình như ở Can Lộc có 29 người, Đức Thọ 17 người, về giới tính: Nam 2 người, nữ 44 người, về độ tuổi: dưới 18 tuổi: 02 người, từ 18-30 tuổi: 15 người, từ 30- 40 tuổi: 20 người, trên 40 tuổi: 9 người; về trình độ văn hoá: Mù chữ: 02 người, tiểu học 18 người, trung học cơ sở: 24 người, trung học phổ thông 02 người, về nghề nghiệp: Làm ruộng: 40 người, buôn bán: 5 người, không có nghề: 01 người, Trong 44 phụ nữ bị lừa bán sang Trung Quốc, chủ yếu qua cửa khẩu các tỉnh phía Bắc như Móng Cái, Quảng Ninh; Lạng Sơn, Hải Phòng. Trong 46 trường hợp bị lừa bán ra nước ngoài, có 7 trường họp đã về thăm quê từ 1 đến 2 lần (Can Lộc), 1 trường hợp ở Đức Thọ do ốm đau đã về hẳn ở quê. Tình hình trên cũng đã gây ảnh hưởng trực tiếp về ANTT và bức xúc trong quần chúng nhân dân cần được các cấp, các ngành quan tâm giải quyết.
3. Nguyên nhân của tình hình trên chủ yếu tập trung ở một số vấn đề sauđây:
Trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, nhiều mâu thuẫn nẩy sinh trong đời sống kinh tế - xã hội, nhất là phân hoá giàu nghèo, tình trạng thất nghiệp. Một số khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, đời sống nhân dân còn rất khó khăn, dân trí thấp, nhiều phụ nữ, trẻ em và gia đình họ ở trong hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, bị lôi cuốn vào quá trình tìm kiếm việc làm ở đô thị hay ở nước ngoài. Mặt khác, do tác động của mặt trái xã hội như các luồng văn hoá độc hại, các tệ nạn xã hội như mại dâm, ma tuý trong nước và khu vực; bọn tội. phạm trong nước móc nối với tội phạm người nước ngoài khai thác lợi dụng các điều kiện này để hoạt động phạm tội.
Nhận thức về tính nghiêm trọng, sự cần thiết và trách nhiệm phải tăng cường phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em ở một số cấp uỷ Đảng, chính quyền, ban, ngành, đoàn thể còn hạn chế. Công tác phòng ngừa, đâu tranh chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trỏ cm chưa được triổn khai một cách toàn diện, đồng bộ; Sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng thiêu chặt chồ, cơ chê, tô chức bộ máy thực hiện chưa đáp ứng yêu cầu phòng chống tội phạm buôn bán phụ nữ trẻ em trong tình hình mới.
II. Công tác phòng ngừa, đấu tranh.
1. Kết quả công tác phòng ngừa.
Những năm qua, công tác phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em luôn luôn gắn liền với công tác phòng, chống tội phạm và các tệ nạn xã hội nói chung. Nhất là sau khi Chính phủ có Chỉ thị số 766/TTg ngày 17/9/1997 và ban hành Nghị quyết số 09/1998/NQ-CP ngày 31/7/1998 “về tăng cường công tác phòng chống tội phạm trong tình hình mới”, UBND tỉnh đã có sự chỉ đạo triên khai thực hiện nghiêm túc; công tác phòng, chống buôn bán phụ nữ, trẻ em đã được các ngành, đoàn thể, các cấp chính quyền quan tâm hơn và bước đầu đem lại một số kết quả.
- Công tác phòng ngừa được triển khai thực hiện với những nội dung trọng tâm là tuyên truyền giáo dục về chính sách pháp luật các thủ đoạn dụ dô, lừa gạt của bọn tội phạm, qua đó nhằm nâng cao nhận thức và' tinh thân cảnh giác cho
quần chúng nhân dân; thực hiện công tác quản lý Nhà nước về an ninh trật tự, quản lý các cơ sở kinh doanh như khách sạn, nhà nghỉ, nhà hàng..., quản lý các hoạt động dịch vụ môi giới hôn nhân với người nước ngoài; hoạt động cho, nhận con nuôi người nước ngoài, xuất nhập cảnh v.v... nhằm kịp thời phát hiện, ngăn chặn các hành vi phạm tội và các ữường hợp phụ nữ, trẻ em bị buôn bán. Đối với các trường hợp phụ nữ, trẻ em bị buôn bán ra nước ngoài đã trở về, các ngành chức năng như: Biên phòng, Công an, Lao động - Thương binh và Xã hội, các đoàn thể đã phối hợp với chính quyền địa phương cơ sở giúp họ sớm ổn định cuộc sống, tìm kiếm việc làm, tái hoà nhập cộng đồng.
2. Công tác đấu tranh.
Trước tình hình buôn bán phụ nữ, trẻ em xẩy ra ngày càng gia tăng, ngành Công an với vai trò nòng cốt trong đấu tranh phòng chống tội phạm đã phối hợp với các cơ quan chức năng thực hiện nhiều biện pháp nhằm phát hiện, ngăn chặn đấu tranh chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em.
Công an tỉnh đã có kế hoạch cụ thể chỉ đạo các phòng nghiệp vụ có liên quan, Công an các huyện, thị xã tồ chức điều tra cơ bản, khảo sát trên địa bàn 11 huyện, thị xã, thống kê số phụ nữ, trẻ em bị lừa bán ra nước ngoài, trên địa bàn tỉnh có 46 người, chủ yếu tập trung ở vùng nông thôn, do tìm kế mưu sinh, không có việc làm, cả tin nên đã bị lừa bán sang Trung Quốc với nhiều mục đíclì khác nhau.
Đồng thời với việc tổ chức khảo sát, điều tra, lực lượng Công an đã kịp thời tổ chức khai thác thông tin đối với những phụ nữ trên địa bàn tỉnh đã bị bán sang Trung Quốc trở về thăm quê, để chủ động làm tốt công tác phòng ngừa và có tài liệu đấu tranh với các đường dây đưa người ra nước ngoài và buôn bán phụ nữ trẻ em.
Được sự chỉ đạo của Tỉnh uỷ, UBND tỉnh, cấp uỷ, chính quyền các địa phương, các ngành hữu quan như Công an, Tư pháp, Bộ dội Biên phòng tinh, Lao dộng - Thương binh xã hội, Dân số - Gia đình và Trỏ cm, MTTQ, Phụ nữ, Đoàn Thanh niên đã đẩy mạnh việc triển khai các biện pháp nghiệp vụ đấu tranh ngăn chặn và tuyên truyền tận người dân, từ đó đã góp phần tích cực thúc đây công tác phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em, nhât là trên lĩnh vực giáo dục truyền thông, khảo sát, đánh giá tình hình. Bước đâu'tô chức tập huân, nâng cao năng lực cho cán bộ một số Sở, ban, ngành và các huyện, thị xã, các xã, phường, thị trấn nên đã từng bước giảm được số nạn nhân bị lừa bán ra nước ngoài. Đồng thời đảm bảo an ninh trật tự ở địa phương.
3. Một số hạn chế trong công tác phòng, chống tôi phạm buôn bán phụ nữ,trẻ em.
- Công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em của các ngành, các cấp từ tỉnh đến các huyện, thị, xã, phường, thị trân còn thiêu đồng bộ, chưa có ngành chịu trách nhiệm chủ trì xây dựng cơ chê phôi hợp. Công tác điều tra cơ bản nắm tình hình chưa thường xuyên, kịp thời và mang tính thụ động; Chưa nắm đầy đủ số lượng, và thực trạng phụ nữ, trẻ em trên địa bàn tỉnh bị buôn bán ra nước ngoài và buôn bán trong nước. Kêt quả công tác điêu tra khám phá các vụ án buôn bán phụ nữ, trẻ em còn rất hận chế. Đến nay chưa điều tra khởi tố được vụ nào. Công tác quản lý nhân khẩu, hộ khẩu tạm trú, tạm vắng chưa tôt, nhât là vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Hệ thống pháp luật liên quan đên lĩnh vực phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trè em chưa được bổ sung hoàn thiện,
- Cán bộ làm công tác trong lĩnh vực này thiếu kiến thức cơ bản, chưa được thường xuyên cập nhật thông tin; Công tác phối hợp giữa các ngành, các lực lượng thiếu chặt chẽ; Tổ chức lực lượng và các trang thiết bị phục vụ công tác đâu tranh phòng chông chưa đáp ứng được yêu câu thực tế hiện nay.
B.NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG PHÒNG, CHỐNG TỘI PHẠM BUÔN BÁN PHỤ NỮ VÀ TRẺ EM ĐẾN NĂM 2010
Các Sở, ban ngành, ủy ban nhân dân các huyện, thị xã phải quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Chính phủ và của Ban chỉ đạo 130 tỉnh, cụ thể là:
- Phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em là vấn đề mang tính xã hội cao, phải đặt trong mối quan hệ giữa phòng, chống tội phạm với giải quyốt các vấn đề kinh tế - xã hội, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng, chính quyên, các cấp, huy động sự tham gia của các ngành, đoàn thể và toàn xã hội.
- Lấy phòng ngừa là chính, kết hợp chặt chẽ giữa phòng ngừa và đấu tranh xử lý tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em và tái hoà nhập cộng đồng cho nạn nhân, phù hợp với đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và Luật pháp quốc tế.
I. Mục tiêu, yêu cầu.
1. Mục tiêu chung: Tạo sự chuyển biến mạnh mõ về nhận thức và hành động; trong các cấp, các ngành, các đoàn thế quần chúng, các tổ chức chính trị xã hội và nhân dân về công tác phòng, chống buôn bán phụ nữ, trẻ em đổ đến năm 2010 cơ bản giải quyết được tình trạng buôn bán phụ nữ, trẻ em.
2. Mục tiêu cụ thể.
a) Từ năm 2005 - 2006:
- Nâng cao nhận thức, hiểu biết của cộng đồng về thủ đoạn, nguyên nhân,
hậu quả của tệ nạn buôn bán phụ nữ trẻ em; Nâng cao ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật của công dân và các tổ chức trong phqng ngừa và đấu tranh chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em.
- Xây dựng, kiện toàn các cơ quan chuyên trách thực thi pháp luật, tăng cường pháp chế và các mặt quản lý xã hội nhằm phòng ngừa, đâu tranh chông tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em.
- Phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn nhằm giảm dần các tội phạm liên quan đến buôn bán phụ nữ và trẻ em, phẩn dấu giảm 25% tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em tại các địa bàn trọng điêm.
b) Từ năm 2007 -2010:
Tiến hành đồng bộ các biện pháp phòng ngừa, kết hợp chủ động đấu tranh làm giảm trên 50% tình trạng phụ nữ, trẻ em bị buôn bán trên phạm vi toàn tỉnh; Tổ chức giúp đỡ có hiệu quả đối với phụ nữ, trẻ em bị buôn bán trở vê địa phương, nhanh chóng tái hòa nhập cộng đông.
II. Nội đung và các Đề án chủ yếu của Chương trình.
1. Nội dung của Chương trình.
a) Tổ chức điều tra cơ bản, phân tích, dự báo tình hình tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em trên địa bàn Hà Tĩnh; Tổng hợp số liệu liên quan đến tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em.
b) Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, phát động phong trào quần chúng nhân dân, nhât là ở các vùng nông thôn, phát hiện, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em.
c) Triển khai đồng bộ các biện pháp phòng ngừa tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em tại gia đình, cộng đồng dân cư, cơ quan, tổ chức.
d) Đấu tranh chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em và các loại tội phạm khác có liên quan, nhất là tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em ra nước ngoài có tổ chức và có tính quốc tế.
đ) Hỗ trợ giáo dục, tạo việc làm, tái hoà nhập cộng đồng cho phụ nữ và trẻ em bị buôn bán; Đầu tư xây dựng các cơ sở tiếp nhận phụ nữ, trẻ em bị buôn bán ra nước ngoài trở về.
e) Kiện toàn và đào tạo, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác phòng, chống buôn bán phụ nữ, trẻ em.
g) Góp ý xây dựng và hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến phòng, chống buôn bán phụ nữ, trẻ em.
h) Thực hiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em, nhất là buôn bán phụ nữ, trẻ em ra nước ngoài phù hợp với Luật pháp quốc gia và Điều ước quốc tế.
2. Các Đe án chủ yếu của Chương trình.
Để thực hiện có hiệu quả mục tiêu, yêu cầu, nội dung của Chương trình hành động phòng, chống buôn bán phụ nữ, trẻ em trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2010. Trong thời gian tới các Sở, ban, ngành, UBND các huyện, thị xã cần tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện tốt 4 đề án sau đây:
a) Đề án 1: Tuyên truyền, giáo dục trong cộng đồng về phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em.
- Liên hiệp Hội Phụ nữ tỉnh chủ trì; Ủy ban Dân số - Gia đình và Trẻ em tỉnh, Sở Văn hoá - Thông tin, Tỉnh Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Đài Phát thanh Truyền hình tỉnh, Báo Hà Tĩnh; Các Sở, ban, ngành, UBND các huyện, thị xã phối hợp thực hiện.
Tập trung vào việc tố chức tuyên truyền, giáo- dục thường xuyên, dưới nhiều hình thức, tổ chức các chiến dịch truyền thông rộng khắp trong cả tỉnh, đặc biệt là ở các vùng trọng điểm, tới các nhóm đối tượng nguy cơ cao; Lồng ghép nội dung tuyên truyền phòng, chống tội phạm và các tệ nạn xã hội, xây dựng gia đình văn hoá, xây dựng xã, phường lành mạnh không có tệ nạn xã hội; hô trợ, tư vấn cho các gia đình nạn nhân và những phụ nữ, trẻ em có nguy cơ bị buôn bán.
b) Đề án 2: Đấu tranh chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em.
Công an tỉnh chủ trì triển khai ở khu vực nội địa; Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh chủ trì triên khai ở khu vực biên giới; Uỷ ban Dân số - Gia đình và Trẻ em tỉnh, Sở Tư pháp, Sở Ngoại vụ, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh, Tòa án nhân dân tỉnh và các Sở, ban, ngành khác phối hợp thực hiện.
Tập trung vào các hoạt động phòng ngừa, ngăn chặn, phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em và các loại tội phạm khác có liên quan, nhất là đối với tội phạm buôn bản phụ nữ, trẻ em ra nước ngoài, tội phạm hoạt động có tô chức và có tính quốc tế.
Kiên quyết truy bắt các đối tượng phạm tội còn lẩn trốn, không để những đôi tượng này tiêp tục phạm tội hoặc phát triển thành các băng, nhóm tội phạm
mới.
c) Đề án 3: Tiếp nhận và hỗ trợ những phụ nữ, trẻ em là nạn nhân bị buôn bán từ nước ngoài trở về.
Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh chủ trì tiếp nhận, làm các thủ tục bàn giao; Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh chủ trì, phối hợp với các Sở, ban, ngành liên quan và chính quyền địa phương các cấp tổ chức tiếp nhận và hỗ trợ nạn nhân tái hoà nhập cộng đồng.
Tập trung kiểm soát chặt chẽ các cửa khẩu biên giới, đặc biệt là các cửa khâu đường bộ; Phối hợp với c.ác lực lượng Công an, Bộ đội Biên phòng các nước có chung đường biên giới và các ngành hữu quan tiến hành các thủ tục liếp, nhận và hỗ trợ nạn nhân bị buôn bán trở về. Tổ chức tiếp nhận và các hoạt động hỗ trợ, giáo dục, giúp nạn nhân nhanh chóng 011 định cuộc sống, tái hoà nhập cộng đồng.
d) Đề án 4: Xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em.
Sở Tư pháp chủ trì, Sở Ngoại vụ, Công an tỉnh, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh, các Sở, ban, ngành liên quan phối hợp thực hiện.
Tập trung nghiên cứu, tham mưu cho ủy ban nhân dân tỉnh xây dựng và góp ý vào các văn bản và quy phạm pháp luật liên quan đến phòng, chống buôn bán phụ nữ, trẻ em trên các lĩnh vực: Pháp luật hình sự, hành chính, hôn nhân, cho và nhận con nuôi có yếu tố nước ngoài, du lịch và xuất khẩu lao động, xuất nhập cảnh, xử lý các vi phạm và hỗ trợ tái hoà nhập cộng đồng cho nạn nhân.
C. TỔ CHỨC CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH HÀNH ĐỘNG
I. Tổ chức, điều hành.
- Chương trình hành động phòng, chổng tội phạm buôn bán phụ nữ, trổ em đến năm 2010 có nội dung liên quan đến nhiều lĩnh vực. Vì vậy, tổ chức thực hiện phải được có sự phối hợp chặt chẽ giữa các Sở, ban, ngành, đoàn thổ quân chúng và chính quyên các cấp.
- Thành lập Ban Chỉ đạo Chương trình hành dộng phỏng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em do đồng chí Phó Chủ tịch ủy ban nhân dân lỉnh làm Trưởng ban, đồng chí Giám đốc Công an tỉnh làm Phó Trưởng ban Thường trực,
Thành viên gồm các đồng chí Giám đốc các Sở: Ngoại vụ, Tư pháp, Lao động - Thương binh và Xã hội, Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính; Chỉ huy trưởng Bộ đội Biên phòng tỉnh; Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh; Chủ nhiệm Ưỷ ban Dân số - Gia đình và Trẻ em tỉnh.
II. Phân công trách nhiệm.
1. Công an tỉnh.
- Là Cơ quan Thường trực của Ban chỉ đạo, có trách nhiệm giúp ƯBND tỉnh phổi hợp tổ chức thực hiện chương trình; Bố trí lực lượng chuyên trách làm công tác phòng, chống buôn bán phụ nữ, trẻ em; hướng dẫn, chỉ đạo Công an các huyện, thị xã triển khai thực hiện Chương trình hành động phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trỏ cm. Công an tỉnh cơ quan đầu mối, chủ trì phối hợp với các Sở, ban, ngành liên quan và UBND huyện, thị xã tố chức nắm chắc tình hình, thống kê số liệu về phụ nữ, trẻ em trên địa bàn Hà Tĩnh bị lừa bán và đưa trái phép ra nước ngoài.
- Tổ chức điều tra cơ bản, phân tích, dự báo tình hình tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em trên địa bàn Hà Tĩnh; Xác định những địa bàn trọng điểm, tập trung chỉ đạo lực lượng Công an các cấp tăng cường các biện pháp nghiệp vụ phát hiện, ngăn chặn, triệt phá các tổ chức đường dây tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em. Quản lý chặt chẽ nhân khẩu, hộ khẩu ở xã, phường, thị trấn; phối hợp với ủy ban MTTQ tỉnh và các đoàn thể nhân dân phát động phong trào quần chúng tham gia phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh chống tội phạm, giữ gìn trật tự an toàn xã hội.
- Cùng các Sở, ban, ngành liên quan và UBND các huyện, thị xã, các xã, phường, thị trấn kiếm tra, xử lý các cơ sở dịch vụ môi giới kết hôn, nhận con nuôi có yếu tố nước ngoài trái pháp ỉuật, các dịch vụ du lịch, xuất khẩu lao động vi phạm pháp luật trong việc đưa người ra nước ngoài.
- Tăng cường cán bộ chuyên trách cho phòng PC14 - Công an tỉnh, Công an-các huyện, thị xã để lập thời phát hiện, điều tra nhanh chóng, xử lý nghiêm minh các tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về phòng, chống buôn bán phụ nữ, trẻ em, đưa trái phép phụ nữ, trẻ em ra nước ngoài.
- Thường xuyên tổng hợp tình hình, kịp thời đề xuất giải pháp phù hợp với tình hình cụ thể và định kỳ hàng năm báo cáo ủy ban nhân dân tỉnh tình hình thực hiện Chương trình hành động này.
2. Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh.
- Tăng cường các biện pháp kiểm soát tại cửa khẩu biên giới, nhầm ngăn chặn đưa trái phép phụ nữ, trỏ em ra nước ngoài.
- Chủ trì phổi hợp với các Sở, ban, ngành liên quan, chính quyền các cấp tô chức tiếp nhận và hỗ trợ số phụ nữ, trẻ em bị buôn bán trở về qua biên giới.
- Phối hợp với Công an tỉnh và các tỉnh có chung đường biên như Bôlikhămxây, Khăm Muộn (CHDCND Lào), phối hợp với Bộ đội Biên phòng các tỉnh ở biên giới phía Bắc và Tây Nam phát hiện, ngăn chặn các đường dây đưa trái phép phụ nữ, trẻ em qua biên giới.
- Phối hợp với các ngành chức năng đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân ở địa bàn khu vực biên giới tham gia chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em.
3. Sở Ngoại vụ.
- Chủ trì, phối hợp với Công an tỉnh về mặt chính trị, đối ngoại trong lĩnh vực hợp tác quốc tế phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em ra nước ngoài. Thực hiện các biện pháp để nắm được tình hình và số lượng phụ nữ, trẻ em bị buôn bán ra nước ngoài đang sinh sống ở các nước. Chủ động tham mưu cho ủy ban nhân dân tỉnh làm việc với các tổ chức quốc tế và các nước liên quan về vấn đề xoá bỏ tình trạng phụ nữ, trẻ em trên địa bàn tỉnh bị lừa bán và đưa trái phép ra nước ngoài.
- Phối hợp với các tổ chức đoàn thể trong việc vận động tranh thủ các tổ chức phi chính phủ (NGO) tham gia giải quyết tình hình trên.
4. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội.
Chù trì, phối hợp với Công an tỉnh, Bộ Chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh, Sở Y tế, Uỷ ban Dân số - Gia đình và Trẻ em tỉnh, Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh, ủy ban nhân dân các cấp tổ chức dạy nghề, giải quyết việc làm, tái hòa nhập cộng đồng cho nạn nhân trở về, đưa số nạn nhân bị mắc các bệnh xã hội vào các cơ sở chữa bệnh.
5. Sở Tư pháp.
Chủ trì, phối hợp với các Sở, ban, ngành liên quan xây dựng và tham mưu để hoàn thiện hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến phòng ngừa, đấu tranh, xử lý các tội phạm liên quan đến buôn bán phụ nữ, trẻ em; Tổ chức tuyên truyền, giáo dục pháp luật về phòng, chống buôn bán phụ nữ, trẻ em.
6. Sở Kế hoạch và Đầu tư.
Phối họp với Sở Tài chính bố trí ngân sách cho Chương trình hành động phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em trong kế hoạch hàng năm trình ủy ban nhân dân tỉnh.
7. Sở Tài chính.
Hướng dẫn lập dự toán kinh phí hàng năm thực hiện Chương trình hành động phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em đến năm 2010 theo quy định của Luật ngân sách Nhà nước; Thực hiện kiêm tra việc quản lý và sử dụng kinh phí theo đúng mục đích; Chủ trì nghiên cứu, đề xuất trình cấp có thâm quyền các biện pháp phù hợp, nhằm huy động sự đóng góp từ các nguồn kinh phí để hỗ trợ thực hiện Chương trình.
8. Uỷ ban Dân số, Gia đình và Trẻ em:
Chỉ đạo và phối hợp các Sở, ban, ngành liên quan thực hiện nhiệm vạ phòng ngừa tình trạng trẻ em bị buôn bán, bị xâm hại tình dục vì mục đích thương mại.
9. Các Sở, ban, ngành, cơ quan thuộc ủy ban nhân dân tỉnh:
Có kế hoạch chỉ đạo việc thực hiện các nội dung, biện pháp đấu tranh phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình và các nhiệm vụ đã nêu trong Chương trình hành động.
10. Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã.
Có trách nhiệm tổ chức thực hiện các nội dung và đề án của Chương trình hành động phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em; Xây dựng kế hoạch thực hiện cụ thể phù hợp với tình hình địa phương; Chọn các địa bàn triên khai, điểm để rút kinh nghiệm chỉ đạo chung. Xác định rõ vai trò, trách nhiệm của Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã trong việc thực hiện Chương trình này.
11. Đề nghị Toà án Nhân dân tỉnh, Viện Kiểm sát Nhân dân tỉnh.
Tăng cường chỉ đạo hệ thống các cơ quan thuộc ngành ở các địa phương và có kế hoạch phối hợp chặt chẽ với các cơ quan bảo vệ pháp luật khác trong công tác điều tra, truy tố, xét xừ tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em một cách kịp thời, nghiêm minh.
1. Đề nghị Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh và các tổ chức đoàn thể cấp tinh: Liên Đoàn Lao động, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Tỉnh Đoàn, Hội Cựu Chiến binh, Hội Nông dân phối hợp chặt chẽ với các Sở, ban, ngành và chính quyên các cấp trong việc tuyên truyền, vận động, giáo dục các tâng lớp nhân dân tích cực tham gia công tác phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em.
2. Đề nghị Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh:
Chủ trì phối hợp với các Sở, ban, ngành, đoàn thể, cơ quan liên quan và chính quyền địa phương tổ chức các hoạt động tuyên truyền, giáo dục, tư vấn tại cộng đồng về phòng, chống buôn bán phụ nữ, trẻ em. Phôi hợp với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh hỗ trợ, giúp đỡ cho số phụ nữ, trẻ em bị buôn bán trở về tái hoà nhập cộng đồng.
I. Kinh phí thực hiện Chương trình.
Kinh phí thực hiện Chương trình này được huy động từ các nguồn:
1. Ngân sách Trung ương hỗ trợ thực hiện Chương trình phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em.
2. Ngân sách địa phương hàng năm theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước do Ban chỉ đạo Chương trình lập kế hoạch phân bổ trình UBND tỉnh và kết hợp lồng ghép với các chương trình, dự án án trên địa bàn tỉnh.
3. Các nguồn khác: Huy động từ các nguồn hợp pháp khác ở trong và ngoài nước (đóng góp của cộng đồng, tài trợ quốc tế...).