|
UBND TỈNH NGHỆ AN Số: 80/2004/QĐ-UB |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------------------- tỉnh Nghệ An, ngày 30 tháng 07 năm 2004 |
QUYẾT ĐỊNH CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
Về việc phê duyệt Đề án Cai nghiện - Tạo việc làm sau cai nghiện ma túy giai đoạn 2005 - 2010.
ỦY BAN NHÂN DÀN TỈNH NGHỆ AN
Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND ngày 26/11/2003;
Căn cứ Quyết định TTg ngày 28/12/2000 của Thủ tướng phủ về Chương trình hành động phòng chống ma túy giai đoạn 2001 - 2005;
Xét đề nghị của Giám đốc Sở Lao động Thương binh và Xã hội tại Tờ trình số 463/TT-LĐTBXH-TNXH ngày 06 tháng 07 năm 2004.
QUYẾT ĐỊNH
Điều1. Phê duyệt “Đề án Cai nghiện - Tạo việc làm sau cai nghiện ma túy giai đoạn 2005 - 2010 tỉnh Nghệ An” (có văn bản đính kèm).
Điều2. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký.
Các ông: Chánh Văn phòng HĐND - UBND tỉnh, Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Thủ trưởng các Sở, Ban, ngành có liên quan; Chủ tịch UBND các huyện, thành phố Vinh, thị xã Cửa Lò chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.
TM.ỦY BAN NHÂN DÂNTỈNH NGHỆ ANKT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH
(Đãký)
Hoàng Ky
ĐỀÁN
Cai nghiện - tạo việc làm saucai nghiện ma túy giai đoạn 2005 -2010.
(Ban hành kèm theo Quyết định số 80/2004/QĐ-UB/ngày 30/7/2004 của UBND tỉnh Nghệ An)
I - ĐẶT VẤN ĐỂ
Đấu tranh phòng, chống các tệ nạn xã hội, đặc biệt là tệ nạn ma túy là một vấn đề phức tạp và khó khăn; đòi hỏi phải được tiến hành thường xuyên, kiên trì và quyết liệt với các giải pháp đồng bộ từ tuyên truyền, giáo dục. phòng ngừa đến đấu tranh kiểm soát, triệt phá đường dây buôn bán vận chuyển, ổ nhóm sử dụng trái phép chất ma túy; trong đó việc cai nghiện - dạy nghề và tạo việc làm sau cai là một giải pháp nhằm giảm cầu, ngăn chặn việc tái nghiện và lây lan người nghiện mới, địa bàn mới, giúp người nghiện ma túy được cai thành công hòa nhập được với cộng đồng.
Đề án cai nghiện - tạo việc làm sau cai nghiện ma túy được xây dựng trên cơ sở Luật Phòng chống ma túy đã được Quốc hội thông qua ngày 09/12/2000; Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính ngày 16 tháng 7 năm 2002, Nghị định số 20/CP ngày 13/4/1996, Nghị định số 34/ CP ngày 28/03/2002 của Chính phủ quy định trình tự thủ tục và chế độ cai nghiện đối với người nghiện ma tuý vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, Nghị định số 56/2002/NĐ-CP của Chính phủ ngày 15/5/2002 về tổ chức cai nghiện ma túy tại gia đình và cộng đồng, Quyết định 150/ QĐ/TTg ngày 28/12/2001 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt chương trình hành động phòng chống ma túy giai đoạn 2001 - 2005, Thông tư Liên tịch số 31/1999/TTLT/BLĐTBXH-BYT ngày 20/12/1999 của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế và Chỉ thị số 07/CT/TU ngày 9/10/2001 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tăng cường đấu tranh phòng chống ma túy. Đồng thời đề án được xây dựng trên cơ sở đúc rút kinh nghiệm trong quá trình tổ chức cai nghiện trong tỉnh thời gian vừa qua và học tập các mô hình cai nghiện có hiệu quả tại một số tỉnh bạn như Tuyên Quang, Lào Cai, TP Hồ Chí Minh .v.v...
Đây là một đề án liên quan tới nhiều lĩnh vực kinh tế, pháp luật, an ninh, chính trị đồng thời chịu sự tác động trực tiếp của quá trình phát triển kinh tê - xã hội và nhận thức của mỗi cấp, mỗi ngành và mọi người đối với công tác cai nghiện và giải quyết các vấn để xã hội sau cai trên địa bàn. Đề án là cơ sở để các cấp, các ngành, UBND các huyện, thành, thị, các xã, phường, thị trấn xây dựng và tổ chức thực hiện công tác cai nghiện, hướng nghiệp, dạy nghề tạo việc làm sau cai cho người nghiện ma túy trong phạm vi của mình.
Thời gian thực hiện đề án: Giai đoạn I từ năm 2005 - 2006; giai đoạn II từ 2007 - 2010.
II. THỰC TRẠNG TỆ NẠN MA TÚY VÀ TÌNH HÌNH CAI NGHIỆN-TẠO VIỆC LÀM SAU CAI THỜI GIAN QUA
1. Thực trạng tệ nạn ma túy
Hiện nay số người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý trên toàn tỉnh là 4.564 người: có 257/469 xã, phường, thị trấn của 19 huyện, thành, thị có người nghiện ma túy (có phụ lục kèm theo). Nghiện ma túy đã làm hủy hoại thể chất, tinh thần của con người gây hậu quả nghiêm trọng trên nhiều mặt:
a) Về sức khỏe:85% người nghiện sức khỏe ốm yếu, trong đó 35% mất sức lao động: Có hơn 90% người nhiễm HIV bị lây nhiễm thông qua con đường tiêm chích ma túy.
b) Về an ninh, trật tự an toàn xã hội:Năm 2001 - 2003 trong số tội phạm hình sự có 85% số vụ liên quan đến ma túy, trong đó có nhiều vụ phạm tội đặc biệt nguy hiểm như: cướp của, giết người, đâm thuê, chém mướn, tống tiền.
c) Về mặt kinh tế:12% do nghiện ma túy bị phá sản, tính bình quân một năm 4.564 người nghiện tiêu tốn hết: 365 ngày x 100.000/ngày x 4.564 người = 176,5 tỷ đồng, ngoài ra làm thiệt hại hàng chục tỷ đồng khác do nhiễm HIV/AIDS phải điều trị; do mất khả năng lao động, chưa kể đến kinh phí cho phòng chống TNXH, cai nghiện và quản lý sau cai do hậu quả ma túy gây ra.
d) Về xã hội:Tệ nạn ma túy làm xói mòn đạo đức, phá vỡ hạnh phúc gia đình, làm mất trật tự an ninh xã hội; làm phá vỡ kết cấu xã hội, làm tăng trẻ em không nơi nương tựa, gây gánh nặng cho công tác đảm bảo xã hội.
2. Tình hình cai nghiện tạo việc làm sau cai thời gian qua.
a) Kết quả.
Từ năm 2001 đến năm 2003 toàn tỉnh đã tổ chức cai nghiện cho 3.199 lượt người (cai tập trung 1.266 lượt người, cai tại cộng đồng 1.933 lượt người). Trong đó tỷ lệ người chưa tái nghiện sau cai cắt cơn 6 tháng là 80%, sau 12 tháng là 30%, trong 30% số người sau 12 tháng chưa tái nghiện chủ yếu nhờ vào sự quản lý chặt chẽ và tổ chức dạy nghề, tạo việc làm sau cai cắt cơn.
UBND tỉnh đã có một số chính sách hỗ trợ kinh phí cho các đối tượng nghiện ma túy có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, trong quá trình cai nghiện, đồng thời cho vay vốn với lãi suất ưu đãi để người nghiện có điều kiện học nghề, có cơ hội tìm việc làm sau cai bảo đảm đời sống. Từ năm 2001 - 2003 đã có 385 người được học nghề, 433 người được tạo việc làm và 150 người nghiện được vay vốn giải quyết việc làm với tổng số tiền là 100 triệu đồng.
Qua thực tế của công tác cai nghiện tại các trung tâm, tại cộng đồng trong thời gian qua cho thấy, hình thức tạo việc làm cho người nghiện đã tạo ra sự gắn kết chặt chẽ giữa các trung tâm, gia đình và bản thân người sau cai nghiện để thực hiện tốt công tác cai nghiện đồng thời giúp cho gia đình người sau cai nghiện chủ động phát huy khả năng và sở trường vốn có của họ và con em họ, bên cạnh đó đã huy động được thêm nguồn lực từ các thành phần kinh tế trong xã hội, tham gia giải quyết việc làm cho người sau cai nghiện.
Tại Trung tâm Giáo dục Lao động xã hội I đã có gia đình học viên liên doanh đầu tư kinh phí xây dựng cơ sở sản xuất tạo việc làm cho con em mình và các học viên, nhiều học viên có tay nghề thủ công, mỹ nghệ, đã nhiệt tình truyền nghề cho những học viên khác để tham gia lao động sản xuất, tạo ra sản phẩm trong giai đoạn cai nghiện.
b) Tồn tại han chế.
Vẫn còn người nghiện chưa được phát hiện lập hồ sơ quản lý, người nghiện mới vẫn gia tăng; Việc thống kê, phân loại người nghiện chưa chính xác để có biện pháp cai nghiện và quản lý sau cai phù hợp; Số người nghiện được cai và quản lý sau cai còn thấp so với tổng số người nghiện được phát hiện. Công tác cai nghiện tại gia đình và xã, phường, thị trấn hiệu quả đạt thấp. Các cơ sở cai nghiện tập trung quy mô còn nhỏ bé so với yêu cầu hiện nay.
Người nghiện và gia đình chưa thực sự tự giác, tự nguyện, quyết tâm, ý thức trách nhiệm và sự phối hợp với chính quyền cơ sở chưa cao nên việc cai nghiện hiệu quả thấp, tái nghiện còn cao.
Cấp ủy, chính quyền, đoàn thể, tổ công tác cai nghiện ở cơ sở chưa chú trọng chỉ đạo, tổ chức công tác cai nghiện và quản lý sau cai. Không ít cơ sở không tổ chức cai; hoặc có tổ chức nhưng tiến hành thiếu đồng bộ, thiếu kiên trì, thường xuyên. Số người sau cai được đào tạo nghề và vay vốn để tạo việc làm còn quá ít, hơn nữa các cấp, các ngành, địa phương và gia đình chưa thực sự quan tâm tạo điều kiện dạy nghề, giải quyết việc làm và quản lý sau cai nên phần lớn sau cai cắt cơn một thời gian đều tái nghiện.
3. Nguyên nhân:
a) Khách quan:
- Tình hình buôn bán, vận chuyển, tàng trữ và sử dụng trái phép chất ma túy đang phức tạp và càng tinh vi khó kiểm soát, tình trạng buôn bán lẻ và tổ chức sử dụng chưa được phát hiện triệt phá triệt để.
- Cai nghiện và quản lý sau cai là công việc không giản đơn, đòi hỏi phải thực hiện đồng bộ các giải pháp vê hành chính, pháp luật và khoa học tâm lý, y tế, lao động sản xuất, tạo việc làm cũng như việc quản lý sau cai lâu dài để chống tái nghiện, nhưng chưa có các mô hình hiệu quả cao. Đa số người nghiện không có việc làm hoặc việc làm không ổn định.
b) Chủ quan:
- Nhận thức của các cấp, các ngành và không ít cán bộ, nhân dân về cai nghiện và quản lý sau cai còn phiến diện, thiếu sâu sắc, đồng bộ; chỉ chú trọng cai cắt cơn mà không kiên trì quản lý sau cai và tiếp tục theo dõi giáo dục, hướng nghiệp dạy nghề tạo việc làm đề ngăn ngừa tái nghiện. Do vậy tình trạng tái nghiện còn cao và nảy sinh tư tưởng hoài nghi, buông lỏng của một số địa phương trong công tác cai nghiện.
- Trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, chính quyền các ngành, các cơ quan, đoàn thể, nhất là ở cơ sở chưa tập trung cao cho việc cai nghiện và quản lý sau cai. Tổ chức thực hiện chưa đồng bộ, đồng tâm, đồng loạt, kiên trì và liên tục. Chưa xây dựng và nhân rộng các mô hình cai nghiện và quản lý sau cai có hiệu quả.
- Đầu tư kinh phí, cơ sở vật chất, cán bộ (nhất là ở cơ sở...) chế độ chính sách cho công tác cai nghiện và quản lý sau cai còn quá hạn hẹp chưa đảm bảo yêu cầu thực tê của công việc này.
III - PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU, NỘI DUNG CAI NGHIỆN - TẠO VIỆC LÀM SAU CAI NGHIỆN MA TÚY
1. Phương hướng
- Tổ chức điều tra, phát hiện hết số người nghiện trên từng địa bàn, cơ sở (bao gồm số người nghiện cũ chưa được phát hiện và số người mới nghiện).
- Lập danh sách, phân loại 100% số người nghiện chưa được cai, đang quản lý cai và số đã được cai.
- Tổ chức cai nghiện cho 100% số người nghiện trên địa bàn theo mô hình 3 giai đoạn, phấn đấu đến năm 2007 giảm tỷ lệ tái nghiện xuống dưới 50% và đến năm 2010 tỷ lệ tái nghiện dưới 20%.
- Tiến hành tổ chức dạy nghề cho người nghiện tại các xã, phường, thị trấn; tại các cơ sởcai nghiện và các Trung tâm giáo dục lao động xã hội, khai thác tiềm năng của địa phương và gia đình để tạo việc làm cho người nghiện ma túy trên địa bàn.
- Có chế độ phụ cấp cho các tổ công tác cai nghiện tại các xã, phường, thị trấn để tổ chức cai nghiện và xây dựng chính sách khuyến khích các cơ sởsản xuất của các thành phần kinh tế đầu tư, phát triển ngành nghề, tổ chức tạo việc làm sau cai cho người nghiện ma túy.
2. Mục tiêu cai nghiện - tạo việc làm sau cai nghiện ma túy:
- Năm 2005: Tổ chức cai nghiện cho 3.700 lượt người; Dạy nghề cho 50% số người sau cai nghiện.
- Năm 2006: Tổ chức cai nghiện cho 100% số người nghiện có trên địa bàn toàn tỉnh; Dạy nghề cho 50% số người sau cai và tạo việc làm cho 50% những người đã được cai nghiện.
- Từ năm 2007 đến 2010 tiếp tục rà soát, phát hiện và tổ chức cai nghiện cho những người nghiện mới và số người tái nghiện, tạo việc làm cho người sau cai nghiện nhầm hạ thấp tỷ lệ tái nghiện, nâng số người nghiện tái hòa nhập cộng đồng một cách bền vững.
3. Nội dung cai nghiện - tạo việc làm sau cai nghiện ma túy
3. 1Tổ chức cai nghiện:
- Tập trung cai nghiện theo mô hình III giai đoạn: giai đoạn I cai cắt cơn và quản lý tại nhà cai nghiện xã, phường, thị trấn thời gian 02 tháng; Giai đoạn II tổ chức quản lý và giáo dục lao động tại các cơ sở giáo dục lao động của các huyện, thành, thị thời gian ít nhất 24 tháng; giai đoạn III quản lý tại gia đình và cộng đồng thời gian 30 tháng.
Đối với những người nghiện nặng, có tiền án tiền sự và những người nghiện không có khả năng cai nghiện giai đoạn I tại xã, phường thì tổ chức cai nghiện tại các Trung tâm Giáo dục lao động xã hội của tỉnh.
Trong năm 2005 các xã tổ chức cai theo kế hoạch của tỉnh và huyện, tập trung chỉ đạo các xã trọng điểm thuộc thành phố Vinh, Quế Phong, Tương Dương, Kỳ Sơn, Nghĩa Đàn để xây dựng mô hình nhân rộng.
Từ năm 2006 trở đi, toàn tỉnh tiến hành cai nghiện hết 100% người nghiện và những người tái nghiện, quản lý tốt người nghiện tại cộng đồng, đồng thời có phương án tiếp nhận các đối tượng nghiện ma túy tại các trại giam, các cơ sở cai nghiện bắt buộc sau khi hết hạn vê hội nhập; Chính quyền, xã, gia đình và cộng đồng dân cư có kê hoạch quản lý, chỉ đạo tốt các hoạt động sau cai, trợ giúp họ có điều kiện hoàn lương đạt kết quả.
a) Cai tại xã, phường, thị trấn và gia đình (giai đoạn I).
UBND cấp xã, các tổ chức xã hội và các gia đình có người nghiện phối hợp, tổ chức tốt chương trình cai nghiện ma túy tại gia đình và cộng đồng cấp xã, đồng thời quản lý và tiến hành tổ chức cai nghiện cho người nghiện ma túy theo 2 bước, thời gian quản lý tại cấp xã ít nhất 60 ngày.
* Bước 1:Từ 10 đến 15 ngày, chủ yếu dùng biện pháp y tế để cắt cơn cho người nghiện ma túy.
* Bước 2:Thời gian tiếp theo thực hiện các nội dung sau:
+ Lao động từ nhẹ đến nặng, luyện tập thể dục, thể thao, kết hợp vui chơi giải trí lành mạnh tại cơ sở cai nghiện của xã.
+ Tổ chức giáo dục học tập, viết bản tự kiểm điểm qucá trình sai phạm, viết cam đoan sửa chữa, tố giác những người sử dụng và buôn bán, tàng trữ chất ma túy.
+ Hết thời gian 60 ngày và khi có đủ các điều kiện về đạo đức và sức khỏe người nghiện được xét chuyền đến các cơ sở quản lý giáo dục lao động tập trung(gọi chung là cơ sở)của huyện, thành, thị (giai đoạn II)
+ Những người nghiện ma túy có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, nhưng trong quá trình cai nghiện tại xã có sức khỏe và có ý thức kỷ luật tốt thì UBND cấp xã để nghị chuyển lên các cơ sở cấp huyện, nhưng thời gian cai nghiện tại xã không được dưới 45 ngày.
+ Những trường hợp sau thời gian cai nghiện tại xã, mà không đủ điều kiện xét chuyển đến cơ sở thì phải tiếp tục cai nghiện, rèn luyện cho đến khi đủ điều kiện mới được xét chuyển đến cơ sở của huyện.
+ Đối với người nghiện tự nguyên cai tại nhà phải làm giấy cam kết và cũng phải thực hiện đúng quy trình cai nghiện như tổ chức cai tập trung tại xã, đồng thời UBND xã phân công trách nhiệm cho cán bộ trực tiếp theo dõi, quản lý. Sau đó nếu có đủ điểu kiện (thực hiện đúng các quy định) thì UBND xã làm thủ tục giải quyết đưa vào các cơ sở của huyện, thành, thị.
b) Cai tập trung
* Tại các cơ sở quản lý giáo dục, lao động của huyện, thành thị (giai đoạn II).
- Thành lập các cơ sở giáo dục lao động tập trung của các huyện, thành, thị trước mắt là 05 huyện, thành trọng điểm (thành phố Vinh, Nghĩa Đàn, Quế Phong, Tương Dương, Kỳ Sơn) để tổ chức cho người nghiện lao động, sản xuất như (khai thác đá, sản xuất vật liệu xây dựng, trồng rừng, chăn nuôi, trồng trọt...)
- Các đối tượng sau khi thực hiện tốt cai nghiện giai đoạn I tại gia đình và xã, phường thì chuyển về cơ sở của huyện để tổ chức quản lý giáo dục, lao động sản xuất, thời gian là 24 tháng.
- Quy trình quản lý tại các cơ sở:
+ Tiếp nhận, phân loại đối tượng để quản lý giáo dục.
+ Giáo dục phục hồi nhân cách.
+ Tổ chức lao động sản xuất tự nuôi sống bản thân.
+ Chuẩn bị hội nhập quản lý lâu dài tại cộng đồng.
* Tại các Trung tâm Giáo dục lao động xã hội của tỉnh
Các trung tâm tiếp nhận các đối tượng đã qua cai nghiện nhiêu lần nhưng vẫn tái nghiện và đối tượng không thể cai tại cộng đồng và gia đình với hình thức bắt buộc và đối tượng xin cai nghiện tự nguyện.
- Thời gian cai nghiện và quản lý, lao động tại Trung tâm ít ahất 24 tháng.
- Quy trình cai: Thực hiện theo Nghị định 34/CP Thông tư Liên tịch số 31/TTLT- LĐTBXH-Y tế gồm 5 bước:
+ Tiếp nhận phân loại đối tượng để xây dựng chương trình điều trị thích hợp từng người.
+ Điều trị giải độc, cắt cơn giúp cho đối tượng vượt qua các hội chứng cai kết hợp điều trị các bệnh nhiễm trùng cơ hội.
+ Giáo dục phục hồi nhân cách hành vi, kết hợp tư vấn trực tiếp giúp cho họ xây dựng chương trình giáo dục phục hồi cá nhân phù hợp.
+ Lao động trị liệu và lao động sản xuất tự nuôi sống bản thân.
+ Hội nhập quản lý lâu dài tại cộng đồng: Bước này trung tâm phối hợp cùng với gia đình, chính quyền và các tổ chức xã hội thực hiện quá trình quản lý sau cai.
* Tại Tổng đội TNXP.
-Tiến hành xây dựng Tổng đội Thanh niên xung phong đặc thù do Tỉnh đoàn quản lý đã được UBND tỉnh phê duyệt, theo mô hình vừa tổ chức cai nghiện cắt cơn vừa tổ chức lao động, sản xuất quản lý sau cai.
- Đối tượng tiếp nhận là những người nghiện mà địa phương không đủ điều kiện để tổ chức cai nghiện giai đoạn I.
- Hình thức tiếp nhận là bắt buộc và tự nguyện. Thời gian cai và quản lý sau cai tại cơ sở ít nhất là 24 tháng.
- Quy trình cai nghiện: Theo Nghị định số 34/CP của Chính phủ và Thông tư liên tịch số: 31/TTLT-LĐTB-Xã hội, Y tế áp dụng 5 bước như tại các cơ sở cai nghiện bắt buộc.
a) Tổ chức hướng nghiệp - dạy nghề.
Việc dạy nghề cho người sau cai nghiện cần lưu ý:
- Học đi đôi với hành, dạy nghề kết hợp với giáo dục đạo đức, lối sống, lấy thực hành kỹ năng nghề làm chính, làm cho người nghiện say mê vào học tập rèn luyện, làm mất đi sự thèm khát ma túy.
- Phải có sự quản lý giám sát chặt chẽ của Cơ sơ, người trực tiếp dạy nghề và gia đình trong việc tổ chức dạy nghề cho người sau cai nghiện ma túy.
- Chú trọng vào khả năng, năng lực, sức khỏe, năng khiếu của từng đối tượng để lựa chọn ngành nghề, đào tạo đảm bảo tính thiết thực phù hợp với nhu cầu việc làm của đối tượng và địa phương. Đối với người nghiện ma túy tạo cho họ một thói quen lao động tốt còn thuận lợi hơn một tay nghề cao.
b) Tổ chức hướng nghiêp học nghề:
- Tại các cơ sở của địa phương và gia đình tổ chức các lớp học hoặc liên kết với các Trung tâm dạy nghề để dạy nghề cho đối tượng.
- Tại các Trung tâm giáo dục lao động xã hội của tỉnh, các cơ sở các huyện, Tổng đội TNXP tự tổ chức hướng nghiệp dạy nghề hoặc phối hợp với các Cơ sở dạy nghề để tổ chức các lớp dạy nghề tại trung tâm.
c) Dạy và học các loại nghề:
- Nông, lâm, ngư nghiệp (trồng lúa, hoa màu, chăn nuôi gia súc, trồng rừng, nuôi, đánh bắt hải sản).
- Xây dựng: (Thợ xây, khai thác vật liệu xây dựng, mộc dân dụng...)
- Cơ khí (gò hàn, sửa chữa xe đạp, xe máy...)
- Tiểu thủ công nghiệp (mây tre đan, mộc, nề làm gạch, chế biến thực phẩm, làm giấy, may mặ.
- Điện, điện tử.
- Các nghề khác.
Để tiến hành dạy nghề cho người sau cai nghiện, các Trung tâm giáo dục lao động xã hội của tỉnh và các Trung tâm dạy nghề của các huyện cần triển khai các chương trình tổ chức dạy nghề ngắn hạn hoặc mở các lớp bồi dưỡng kiến thức nghề nghiệp, bồi dưỡng tay nghề cho người sau cai nghiện của đơn vị và địa phương mình.
Mở rộng Trung tâm giáo dục lao động xã hội I, Trung tâm giáo dục lao động xã hội II và xây dựng các cơ sở quản lý, dạy nghề, lao động tập trung tại thành phố Vinh và các huyện đồng thời bổ sung chức năng cho các Trung tâm giáo dục lao động xã hội tỉnh và các cơ sở tại các huyện được phép dạy nghề ngắn hạn cho người sau cai nghiện ma túy.
c) Thời gian hoc nghề
Thời gian học nghề tập trung 1 khóa không quá 12 tháng (theo bậc đào tạo ngắn hạn).
Thời gian học nghề tại gia đình và địa phương; tùy đặc điểm, điều kiện của gia đình, địa phương và khả năng của đối tượng để tổ chức dạy nghề phù hợp.
d) Kinh phí hoc nghề:
Bản thân và gia đình có người nghiện đóng góp theo đúng quy định hiện hành.
3. 3Tạo việc làm sau cai nghiện matúy:
a) Tai gia đình; địa bàn cấp xã; các doanh nghiệp và các cơ sở sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế.
- Tự tạo việc làm tại gia đình như: Chế biến lương thực, thực phẩm, sửa chữa xe máy, làm mộc, thợ xây, làm giấy vệ sinh, trồng hoa, cây cảnh, nuôi chim, ong, cắt tóc, rửa xe... Những người đã cai nghiện tại gia đình và cộng đồng thành công có phương án sản xuất, kinh doanh... tạo việc làm, nếu có nhu cầu được vay vốn giải quyết việc làm.
Dựa vào đặc điểm và khai thác thê mạnh của từng địa phương như làm ruộng, trồng rừng, nuôi trồng thủy sản, làm đỗ mỹ nghệ, mây tre đan v.v... Ngoài ra cần có chính sách để người sau cai nghiện được bô trí việc làm theo các chương trình giải quyết việc làm của các huyện, đồng thời vận động một số doanh nghiệp, cơ sởsản xuất đóng trên địa bàn hoặc do các xã quản lý nhận người sau cai nghiện vào làm việc có sự theo dõi, giám sát thường xuyên của chính quyền, đoàn thê và gia đình họ cho đến khi họ thực sự không còn nguy cơ tái nghiện.
- Tạo điều kiện để các doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất của các thành phần kinh tế được thuê đất sản xuất, xây dựng nhà xưởng, cho vay vốn, hỗ trợ kỹ thuật, bảo hộ quyển sản xuất kinh doanh, chính sách thuế ưu đãi để các doanh nghiệp và cơ sở tiếp nhận người sau cai nghiện vào làm việc.
Đối tượng áp dụng hình thức này là những người nghiện đã qua thời gian lao động (giai đoạn II) tại cơ sở của các huyện, các Trung tâm giáo dục lao động xã hội của tỉnh và Tổng đội TNXP, hoặc đã cai tại xã và gia đình nhưng đã cô gắng, phấn đấu tốt có giấy xác nhận của chính quyền địa phương và các đơn vị cai nghiện.
b) Tại cơ sở giáo dục lao động của các huyện, thành, thị.
- Các huyện có nhiều người nghiện mỗi huyện thành lập 01 Cơ sở để tiếp nhận các người nghiện cai xong giai đoạn I, theo mô hình tổ chức lao động sản xuất, giáo dục nhân cách, với phương châm: nhà nước hỗ trợ về cơ sở vật chất, cán bộ quản lý; người nghiện, gia đình người nghiện phải đóng góp tiền ăn và quá trình quản lý lao động sản xuất tại các cơ sở phải làm ra sản phẩm để tự túc tiền ăn theo quy định.
- Cơ sở tại các huyện bô trí sắp xếp, tổ chức cho người sau cai nghiện làm các công việc như trồng rừng, trồng cây hoa màu, nuôi gia súc, nuôi ong, khai thác vật liệu xây dựng, sản xuất các mặt hàng tiểu thủ công nghiệp, mộc dân dụng, cơ khí để có sản phẩm tự túc đủ tiền ăn và các sinh hoat khác.
- Trong thời gian giáo dục lao động người sau cai nghiện được phân thành tổ, đội... để quản lý và được tiếp đón gia đình, thân nhân và các cơ quan, đoàn thê đến thăm hỏi, giao lưu.
- Các cơ sở có trách nhiệm tổ chức học tập chính trị, giáo dục nhân cách sinh hoạt văn hóa, thể thao, đồng thời phối hợp với chính quyển địa phương thực hiện các biện pháp quản lý và đảm bảo an ninh trật tự, phòng chống thẩm lậu ma túy từ ngoài vào.
- Trong thời gian lao động tại cơ sởnếu tái nghiện hoặc bỏ trốn thì bắt buộc tổ chức cai nghiện lại theo giai đoạn I, nếu tái phạm nhiều lần đề nghị cơ quan chức năng truy tố.
c) Tại tổng đội thanh niên xung phong.
Thực hiện Đề án thành lập tổng đội thanh niên xung phong để tổ chức, cai nghiện, giáo dục, dạy nghề tạo việc làm cho người nghiện ma túy đã được phê duyệt. Tổng đội phải quản lý tập trung đồng thời thành lập các tổ đội để quản lý trực tiếp và giáo dục dạy nghề, tổ chức lao động sản xuất.
- Mô hình Tổng đội thanh niên xung phong tổ chức cai nghiện giáo dục dạy nghề và giải quyết việc làm cho người sau cai nghiện cần có diện tích phù hợp khoảng 120 - 200ha để cai nghiện cho 500 - 700 đối tượng và bố trí lao động sản xuất tiểu thủ công nhiệp, nông nghiệp, trồng rừng, chế biến lâm sản, làm đồ mây tre đan, chăn nuôi gia súc, gia cầm.v.v... để làm ra sản phẩm, tự túc được tiền ăn và các sinh hoạt phí khác trong thời gian tại Tổng đội cũng như định cư lâu dài khi đối tượng có nhu cầu.
d) Tai các Trung tâm giáo dục lao động xã hội tỉnh.
- Mở rộng Trung tâm giáo dục lao động xã hội I, Trung tâm giáo dục lao động xã hội II để đảm bảo cai nghiện - Hướng nghiệp dạy nghề và tạo việc làm sau cai, có chính sách khuyên khích để thu hút, vận động các doanh nghiệp và gia đình có người nghiện liên doanh, liên kết đầu tư cơ sỏ sản xuất để giải quyết việc làm tại Trung tâm.
- Đối với Trung tâm giáo dục lao động xã hội I cần mở rộng diện tích 07 - 10 ha và đầu tư cơ sở vật chất, đảm bảo các điều kiện đề cai nghiện, dạy nghề và giải quyết việc làm cho 250 - 300 người sau cai làm việc với các ngành nghề:
+ May mặc, điện dân dụng, tin học, cơ khí, sửa chữa xe máy.
+ Sản xuất đồ gỗ, đồ mỹ nghệ, trang trí nội thất.
+ Sản xuất nông nghiệp, chế biến thực phẩm, lương thực.
+ Sản xuất nấm, chăn nuôi.
- Đối với Trung tâm giáo dục lao động xã hội II cần mơ rộng diện tích lên 15 - 20 ha và đầu tư cơ sở vật chất đảm bảo các điều kiện để cai nghiện, dạy nghề, giải quyết việc làm cho 300 đến 400 người sau cai nghiện với các ngành nghề.
+ May mặc
+ Sản xuất đồ gỗ, đồ mỹ nghệ, trang trí nội thất.
+ Sản xuất lâm nghiệp, trồng rừng.
+ Tổ chức khai thác vật liệu xây dựng (để nghị cấp giấy phép cho khai thác một phần diện tích mỏ đả Lèn Dơi ngay cạnh Trung tâm).
+ Cơ khí, gò hàn, rèn.
+ Chăn nuôi gia súc, gia cầm.
đ) Thời gian áp dụng lao động bắt buộc đối với người nghiện.
- Thời gian lao động tập trung tại Tổng đội Thanh niên xung phong ít nhất 24 tháng sau đó tái hòa nhập cộng đồng. Sau thời gian lao động tập trung những người có nguyện vọng sẽ được xét cho tiếp tục ở lại làm việc tại Tổng đội. Đối với những người lao động nông, lâm nghiệp có nguyện vọng định cư lâu dài, Tổng đội thanh niên xem xét và tạo điều kiện để được giao đất đồng thời tạo điều kiện giúp đỡ họ tổ chức sản xuất và xây dựng cuộc sống trên vùng đất mới, theo hình thức trang trại gia đình, nếu gia đình có điều kiện có thể cùng tham gia tổ chức sản xuất lâu dài.
- Người sau cai nghiện làm việc tại các Trung tâm Giáo dục lao động xã hội tỉnh và các Cơ sở của huyện thời gian ít nhất là 24 tháng sau đó tái hòa nhập cộng đồng. Nếu người sau cai nghiện có nguyện vọng tiếp tục xin ở làm việc thì các Trung tâm và các cơ sở xem xét giải quyết.
- Tại các xã tùy đặc điểm, điêu kiện của địa phương, gia đình và khả năng của đối tượng để tổ chức tạo việc làm theo từng thời gian phù hợp song đối với người sau cai nghiện ma túy cần tổ chức những việc làm mà gia đình, tập thể có điều kiện để giám sát, kiếm tra, quản lý tốt người sau cai nghiện nhằm ngăn chặn tái nghiện và thời gian quản lý sau cai ít nhất là 24 tháng.
- Đối vối người nghiện đã hết thời gian lao động tại các Trung tâm, Tổng đội thanh niên xung phong, các cơ sở, mà còn thiếu định mức theo quy định của các đơn vị thì phải tiếp tục lao động cho tới khi đủ định mức (trường hợp do tai nạn lao động hoặc lý do đặc biệt khác thì gia đình người nghiện ma túy được nộp số tiền mà người nghiện ma túy còn thiếu, nhưng phải được Ban chỉ đạo cấp huyện đồng ý).
IV – MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
1. Nâng cao trách nhiệm của gia đình, cộng đồng xã hội, của các cấp, các ngành về việc cai nghiện - Tạo việc làm sau cai.
- Mỗi người, mỗi gia đình, mỗi tổ chức xã hội phải xác định rõ việc cai nghiện ma túy là cuộc đấu tranh lâu dài phức tạp, không ít khó khăn, gian khổ nên phải thực hiện đồng bộ, đồng loạt, kiên quyết, kiên trì, liên tục và triệt để, mới có cơ sở giúp người nghiện không tái nghiện và có cơ hội hòa nhập tốt vối cộng đồng.
- Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của mỗi cá nhân, gia đình, dòng họ, cộng đồng xã hội và các cấp, các ngành trong công tác đấu tranh phòng chông tệ nạn ma túy với tinh thần tự nguyện, tự giác và tích cực tham gia công tác cai nghiện và quản lý sau cai.
- Nâng cao vai trò trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, chính quyền, mặt trận và các tổ chức đoàn thể ở các cấp và cán bộ đảng viên nhất là ở cơ sởvề việc cai nghiện, quản lý giáo dục, tạo việc làm sau cai cho người nghiện.
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức, thực hiện xã hội hóa công tác cai nghiện, tạo việc làm sau cai cho người nghiện, xây dựng gia đình hạnh phúc bền vững, xã và khu dân cư trong sạch, lành mạnh tạo thành bức tường vững chắc, ngăn ngừa, đẩy lùi tệ nạn ma túy trên địa bàn toàn tỉnh.
2. Tổ chức và chỉ đạo xây dựng các mô hình cai nghiện có hiệu quả:
a) Tổ chức tốt viêc cai nghiện và quản lý sau cai tại xã.
- Cử cán bộ xã, phường, thị trấn thuộc các chức danh theo Nghị định số 114/2003/NĐ- CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ, trực tiếp làm công tác cai nghiện. Nâng cao năng lực, tăng cường nguồn lực cho Ban cai nghiện cấp xã, theo hướng chính quyên quản lý các hoạt động cai nghiện trên địa bàn, đồng thời huy động các ban, ngành, đoàn thể, nhân dân và gia đình người nghiện tham gia tổ chức cai nghiện và quản lý sau cai.
- Các khối xóm, làng, bản có nhiều người nghiện, thì thành lập tiểu ban cai nghiện do khối trương phụ trách và gồm các thành viên: Dân phòng, Hội Cựu chiến binh, Y tế và các thành viên. Đoàn thanh niên, Phụ nữ, Hội Nông dân và các tổ chức chính trị xã hội khác.
- Cải tiến phương pháp cai nghiện tại cộng đồng để các xã thực hiện nhiệm vụ trọng tâm đó là vừa tổ chức cai cắt cơn, phục hồi sức khỏe, vừa quản lý chặt chẽ các đối tượng trên địa bàn trong thời gian cai nghiện đồng thời có phương án giải quyết việc làm cho người sau cai giúp họ tái hòa nhập cộng đồng.
- Tiếp tục chỉ đạo xây dựng và nhân rộng các mô hình nhóm “bạn giúp bạn” tự cai nghiện và quản lý sau cai. (Đoàn thanh niên phụ trách).
- Thành lập các câu lạc bộ sau cai để tiếp tục quản lý, giáo dục, hướng nghiệp, tạo việc làm ngăn ngừa tái nghiện, (Do Đoàn thanh niên hoặc Cựu chiến binh phụ trách).
- Gia đình, dòng họ, các tổ chức đoàn thể chịu trách nhiệm quản lý giáo dục sau cai. Tổ công tác cai nghiện tại các xã tiến hành tổ chức cai nghiện, chỉ đạo xây dựng mô hình cai nghiện tại gia đình và quản lý người nghiện sau cai, coi đây là biện pháp quan trọng của công tác tái hòa nhập cộng đồng, ngăn chặn không để tái nghiện, tăng đối tượng nghiện mới và lây lan địa bàn mối.
b) Xây dựng các cơ sở giáo dục lao động tại các huyện:
- Tiến hành đầu tư xây dựng các cơ sở giáo dục lao động cho người nghiện có trên từng địa bàn huyện.
- Bố trí cán bộ chuyên trách và cán bộ biệt phái từ ngành Công an, y tế, Lao động - TBXH, các ngành công, nông nghiệp và quân sự, đoàn thanh niên và các đoàn thê ở huyện. Trực tiếp thực hiện công tác quản lý, tạo việc làm tại các Cơ sở tại địa phương; đồng thời có phương án tổ chức cho người nghiện có môi trường lao động và có điều kiện thụ hưởng các sản phẩm của các cơ sở cai nghiện.
c) Đối với Tổng đội TNXP và các Trung tâm GDLĐXH của tỉnh.
- Tiến hành xây dựng tổng đội TNXP để cai nghiện và quản lý sau cai đã được UBND tỉnh phê duyệt trong đó chú trọng việc quản lý, tạo việc làm cho người nghiện ma túy, có phương án tổ chức lao động, sản xuất để tự túc đủ tiền ăn và có thể định cư lâu dài tại tổng đội (nếu người nghiện có nhu cầu và thực sự tiến bộ).
- Mở rộng 2 Trung tâm GDLĐXH để có điều kiện tiếp nhận các đối tượng vào cai nghiện theo Nghị định 34/CP và tổ chức, lao động sản xuất để tự túc đủ tiền ăn và tạo việc làm cho đối tượng đã hết hạn cai nghiện tại Trung tâm.
- Liên doanh, liên kết với các cơ sở sản xuất, các thành phần kinh tế để tạo việc làm và tiêu thụ sản phẩm cho các cơ sở cai nghiện và quản lý sau cai.
3. Xây dựng cơ chế, chính sách nhằm thực hiện cai nghiện - Tạo việc làm trong và sau cai:
a) Đối với người nghiện
* Người nghiện ma túy có nghĩa vụ;
- Phải tự giác đi cai nghiện và chấp hành nghiêm quy chế cai nghiện, quản lý sau cai và các quy định hiện hành của Nhà nước.
- Người cai nghiện phải tự túc tiền ăn, tư trang cá nhân và mọi chi phí trong quá trình cai nghiện tại xã và cơ sở của huyện và tỉnh.
* Quyền lợi của người cai nghiện ma túy
- Người nghiện ma túy đang là hộ nghèo hoặc hộ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn thì được xem xét giảm một phần tiền thuốc cai cắt cơn, thuốc chữa bệnh thông thường và học phí học nghề.
- Sau khi thực hiện cai nghiện thì được đăng ký học nghề và kết thúc khóa học nếu đạt yêu cầu thì được cấp chứng chỉ nghề để có điều kiện hành nghề hoặc đăng ký cấp giấy phép hành nghề.
- Sau khi thực hiện cai nghiện thành công thì được vay vốn giải quyết việc làm sau cai nghiện (nếu có nhu cầu).
b) Đối với cơsởgiải quyết viêc làm
- Khuyến khích các tổ chức, cá nhân thành lập các cơ sở sản xuất để giải quyết việc làm cho người sau cai nghiện. Được thuê hoặc giao đất được vay vốn giải quyết việc làm.
- Được đầu tư hoặc cho vay vốn để xây dựng, mua trang thiết bị, phương tiện sản xuất.
- Được xem xét miễn giảm hoặc giảm các loại thuế có thời hạn trong hoạt động sản xuất, dịch vụ tại các Cơ sở giải quyết việc làm cho người sau cai nghiện.
- Khuyến khích, biểu dương và hỗ trợ một phần kinh phí dạy nghề cho các cơ sở sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế tiếp nhận lao động là người nghiện sau cai nghiện vào làm việc.
c) Đối với cán bộ làm công tác cai nghiện, tạo việc làm sau cai cho người nghiện ma túy.
- Tại các xã, phường có nhiều người nghiện được bố trí 01 cán bộ chuyên trách PCMT và thường trực công tác cai nghiện, được hưởng phụ cấp đặc thù theo quy định của UBND tỉnh.
- Các thành viên trong Tố công tác (Ban cai nghiện) tại các xã trong thời gian làm công tác trực tiếp cai nghiện tại các xã được phụ cấp từ 50.000đ – l00.000đ/tháng do ngân sách xã và quỹ phòng chống ma túy cấp xã chi trả.
- Cán bộ, nhân viên làm việc tại Tổng đội thanh niên xung phong và các Cơ sở giáo dục lao động tại các huyện, thành, thị được hưởng các chế độ, chính sách như làm việc tại Trung tâm giáo dục lao động xã hội tỉnh.
4. Xây dựng bộ máy cán bộ làm công tác quản lý cai nghiện - Tạo việc làm cho người nghiện:
a) Tại xã, phường, thị trấn:
- UBND xã, phường, thị trấn chịu trách nhiệm quản lý cơ sở cai nghiện đặt tại địa phương. Cán bộ tham gia quản lý thực hiện theo chế độ kiêm nhiệm, cán bộ định biên theo Nghị định số 114/2003/NĐ-CP ngày 10/ 10/2003 của Chính phủ, công an viên và các lực lượng tình nguyện có trách nhiệm quản lý, thực hiện các biện pháp cai nghiện cắt cơn, giáo dục nhằm thay đổi nhận thức, hướng cho người nghiện tự giác chấp hành Quy chế cai nghiện 03 giai đoạn của UBND tỉnh.
- Đối với các xã, phường có nhiều người nghiện bố trí 01 cán bộ thường trực phòng chống ma túy, cai nghiện và quản lý sau cai của ban cai nghiện xã.
- Thành lập các nhóm bạn giúp bạn, tổ tình nguyện, câu lạc bộ PCMT tại các xã phường gồm thành viên các ban, ngành, đoàn thể, dòng họ, khối xóm, làng bản và gia đình có người nghiện.
b) Tại cơ sở giáo dục lao động thành, thị:
- Cơ sở giáo dục lao động là nơi quản lý, giáo dục tổ chức dạy nghề, tạo việc làm nhằm phục hồi sức khỏe, nhân cách cho người nghiện đã hoàn thành cai nghiện giai đoạn I (đồng thời có thể thực hiện điều trị cắt cơn nghiện ma túy cho phụ nữ, người chưa thành niên, người mắc bệnh xã hội), trực thuộc UBND các huyện, thành, thị quản lý, có tư cách pháp nhân, được sử dụng con dấu riêng để giao dịch và hoạt động theo Quy chế do UBND tỉnh ban hành.
- Tổ chức bộ máy của mỗi cơ sở giáo dục lao động theo Thông tư số 05/2002/TTLB-BLĐTBXH-BTCCBCP ngày 06 tháng 02 nãm 2002 của Bộ Lao động TB&XH, Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ nay là (Bộ Nội vụ) trong đó được biên chế là 06 người gồm: 01 Giám đốc, từ 01 Phó giám đốc, 01 kế toán, 01 cán bộ y tế, 01 tổ trưởng tố quản lao động sản xuất, 01 tổ trưởng tố bảo vệ, số còn lại điều động cán bộ tăng cường có thời hạn thuộc Trung tâm Y tế, Phòng Tổ chức - Lao động, cán bộ của cơ quan Công an, Quân sự và một số cán bộ thuộc các phòng, ban chuyên môn của huyện, thành, thị đồng thời có thể hợp đồng thêm một số lao động.
- Ngân sách cấp trả lương và chi khác cho số cán bộ trong biên chế của cơ sở giáo dục lao động của các huyện, thành, thị theo quy định. Lương và mọi chế độ của các cán bộ điều động tăng cường do các ban ngành, đoàn thể, đơn vị có các cán bộ được điều động chịu trách nhiệm chi trả.
- Các cán bộ, công nhân viên chức (kể cả số cán bộ tăng cường và lao động hợp đồng) làm việc tại cơ sở giáo dục lao động được hưởng các chế độ phụ cấp theo quy định hiện hành.
- Đối với các huyện có dưới 30 người nghiện thì không xây dựng các cơ sở giáo dục mà phối hợp với các huyện khác hoặc các trung tâm giáo dục lao động xã hội tỉnh để tổ chức quản lý giáo dục lao động cho người nghiện.
c) Tại Tổng đội thanh niên xung phong và các Trung tâm giáo dục lao động xã hội tỉnh.
- Các Trung tâm Giáo dục lao động xã hội, Tổng đội thanh niên xung phong được thực hiện bộ máy, biên chế theo Thông tư số 05/2002/TTLB-BLĐTBXH-BTCCBCP ngày 06 tháng 02 năm 2002 của Bộ Lao động TB&XH, Ban Tổ chứccán bộ Chính phủ nay là (Bộ Nội vụ) và theo Đề án cụ thể được UBND tỉnh phê duyệt.
- Tuyển chọn từ đội ngũ cán bộ hiện có của các Tổng đội thanh niên xung phong và trong ngành Lao động TB&XH, Giáo dục và Đào tạo, Y tế. Thu hút trí thức trẻ, sinh viên các trường Đại học, cao đẳng và cán bộ đoàn thể ở cơ sở và huyện. Tiếp nhận bộ đội, công an xuất ngũ, chuyển ngành.
- Cán bộ, nhân viên làm việc tại các Trung tâm Giáo dục lao động xã hội tỉnh, Tổng đội thanh niên xung phong, được hưởng các chế độ, chính sách theo quy định hiện hành.
d) Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
Sở Lao động TB&XH, sở Nội vụ, Sở Y tế, Công an tỉnh, Tỉnh đoàn, UBND các huyện phối hợp với các trường Đại học, Cao đẳng, Trường công nhân kỹ thuật xây dựng nội dung chương trình và tổ chức đào tạo bồi dưỡng về trình độ quản lý, lý luận chính trị, kiến thức pháp luật, chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng công tác xã hội cho đội ngũ cán bộ tại các xã và các Trung tâm Giáo dục lao động xã hội, Trung tâm dạy nghề, các cơ sở, doanh nghiệp sản xuất kinh doanh về công tác quản lý, dạy nghề tạo việc làm cho người sau cai nghiện; Thường xuyên sơ kết rút kinh nghiệm để không ngừng nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn, tinh thần trách nhiệm và tâm đức với công việc để thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.
5. Kinh phí để thực hiện để án giai đoạn I năm (2005 - 2006).
a) Tổng nhu cầu kinh phí = 16.500.000.000 đồng
(Có phụ lục kèm theo)
b) Cơ cấu nguồn kinh phí :
- Người cai nghiện và gia đình phải đóng góp kinh phí phục vụ cai nghiện, chữa trị trong thời gian cai cắt cơn tại xã; tiền học nghề, tiền ăn, tiền sinh hoạt tại cơ sở các huyện, Tổng đội thanh niên xung phong, Trung tâm Giáo dục lao động xã hội tỉnh.
- Các cơ sở của các huyện, các Trung tâm Giáo dục lao động xã hội tỉnh, Tổng đội TNXP phải tổ chức lao động sản xuất để tự túc đủ tiền ăn và các sinh hoạt khác theo thời gian quy định (24 tháng). Ngoài việc tự tổ chức giải quyết việc làm, các cơ sở và Trung tâm cần liên doanh, liên kết thu hút các thành phần kinh tế đến hợp tác đầu tư sản xuất.
- Ngân sách tỉnh và Trung ương đầu tư nâng cấp các Trung tâm và xây dựng mới một số cơ sở và vốn vay giải quyết việc làm.
- Các huyện và các xã trích ngân sách để đầu tư các cơ sở và đảm bảo công tác cai nghiện, tạo việc làm sau cai cho người nghiện tại địa phương.
- Huy động nguồn kinh phí từ các tổ chức, kinh tế xã hội và đóng góp của nhân dân.
6. Tăng cường quảnlý Nhànước vềcai nghiện - Tạo việc làm sau cai.
- Hàng năm các ngành liên quan và UBND các huyện phải xây dựng kế hoạch cai nghiện, tạo việc làm sau cai cho người nghiện ma túy để bố trí kế hoạch đầu tư và chỉ đạo thực hiện.
- Các cơ sở tổ chức đăng ký cho số người sau cai nghiện tạm trú, có thời hạn tại địa phương nơi trú đóng. Các vấn đề liên quan đến hộ tịch của người sau cai nghiện do Ủy ban nhân dân xã nơi đăng ký tạm trú giải quyết.
- UBND xã phải lập hồ sơ quản lý, theo dõi người nghiện trên địa bàn, người đã cai nghiện và những người được Trung tâm Giáo dục lao động bàn giao về địa phương, đồng thời phân công các tổ chức chính trị xã hội, thành viên trong tổ công tác kết hợp với gia đình, giáo dục, phục hồi nhân cách cho người sau cai nghiện.
- Các cơ quan chức năng có thẩm quyền phối hợp chỉ đạo và thanh tra, kiêm tra việc thực hiện của các cơ sở, kịp thời giải quyết khiếu nại, tố cáo (nếu có) theo các quy định của hiện hành. Nếu cán bộ, nhân viên, người sau cai nghiện và thân nhân có vi phạm thì tùy theo mức độ, trường hợp vi phạm để xử lý kịp thời, đúng pháp luật.
V - TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1. Đề án được thực hiện trong 02 giai đoạn :
a) Giai đoan 1: Năm 2005-2006.
- Nâng cấp thêm cơ sởvật chất tại 75/150 Trạm Y tế của các xã, phường, thị trấn có nhiều người nghiện (từ 20 người nghiện trở lên) đề có điều kiện để tổ chức cai nghiện tại xã, phường.
- Xây dựng 05 cơ sởgiáo dục lao động tại TP Vinh, huyện Quế Phong, huyện Tương Dương, huyện Nghĩa Đàn và huyện Kỳ Sơn.
- Triển khai dự án Tổng đội thanh niên xung phong cai nghiện và quản lý sau cai.
- Mở rộng 02 Trung tâm Giáo dục lao động xã hội tỉnh đã được UBND tỉnh phê duyệt.
- Tiến hành điều tra, thống kê, phân loại, lập danh sách người nghiện trên địa bàn.
- Tổ chức cai nghiện tại gia đình, tại xã và các Trung tâm Giáo dục lao động xã hội tỉnh theo chỉ tiêu được giao hàng năm.
- Chuẩn bị bộ máy cán bộ, cơ sở vật chất, điều kiện đảm bảo để tiếp nhận đối tượng vào cai nghiện và lao động tập trung trên địa bàn.
- Tổ chức một sô lớp học nghề tại các Trung tâm Giáo dục lao động xã hội tỉnh và các cơ sở của các huyện, thành phố Vinh (nếu có điều kiện).
b) Giai đoan 2: năm 2006 - 2010.
- Hàng năm tiến hành điều tra và tổ chức cai nghiện 100% người nghiện mới và tái nghiện hiện có trên địa bàn.
- Tiếp tục xem xét cho xây dựng một số cơ sở cai nghiện tại xã, phường và Cơ sở giáo dục lao động của các huyện còn lại để tiếp nhận các đối tượng vào cai nghiện và giáo dục lao động sản xuất.
- Tập trung tổ chứchướng nghiệp, dạy nghề tạo việc làm cho các người nghiện đã thực hiện tốt việc cai nghiện giai đoạn II.
- Các xã và gia đình người nghiện tăng cường công tác quản lý, tổ chứclao động tập trung cho các đối tượng đã cai nghiện tại các Cơ sở của các huyện, của Tổng đội thanh niên xung phong và các Trung tâm Giáo dục lao động xã hội tỉnh trở vê địa phương. Nếu sau 24 tháng không tái nghiện thì quyết định công nhận hòa nhập cộng đồng.
2. Phân công trách nhiệm.
a) Gia đình người nghiện.
- Báo cáo và phối hợp vối chính quyền địa phương tiến hành tổ chức cai nghiện cho người thân, quan tâm giúp đỡ tạo việc làm và quản lý tốt người nghiện sau cai, đóng góp đầy đủ các khoản kinh phí cai nghiện theo quy định.
b) UBND các xã, phường, thi trấn
- Chịu trách nhiệm điểu tra, phát hiện, thống kê phân loại, tổ chức cai nghiện giai đoạn I. Phối hợp chặt chẽ với các Trung tâm Giáo dục lao động xã hội, Tổng đội thanh niên xung phong, cơ sở giáo dục lao động trong việc quản lý người cai nghiện và định kỳ tổ chức thăm, động viên nắm chắc các diễn biến của học viên thuộc xã, phường.
- Tạo việc làm cho người nghiện ma túy trong phạm vi điều kiện cho phép. Phối hợp với UBMT Tổ quôc, các tổ chức đoàn thể nhân dân, các tổ chứckinh tê - xã hội thường xuyên tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực tham gia đấu tranh phòng chông ma túy.
- Quản lý chặt chẽ người nghiện và người sau cai nghiện được trả về địa phương từ các Trung tâm Giáo dục lao động xã hội tỉnh, các Cơ sở của các huyện. Có trách nhiệm tổ chức đưa người cai nghiện bỏ trốn quay lại cơ sở cai nghiện theo quy định.
c) UBND các huyện:
- UBND các huyện chỉ đạo các xã tổ chức cai nghiện và tạo việc làm sau cai, xây dựng cơ sở giáo dục lao động trên địa bàn theo quyết định của UBND tỉnh.
- Phối hợp với ủy ban Mặt trận Tố quốc và các đoàn thể, tổ chức xã hội tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực ủng hộ tham gia cai nghiện, quản lý dạy nghề và tạo việc làm sau cai.
- Hàng năm trích ngân sách và huy động các nguồn lực đóng góp cho công tác cai nghiện, hướng nghiệp, dạy nghề, tạo việc làm sau cai cho người nghiện. Lồng ghép chương trình cai nghiện, dạy nghề, tạo việc làm sau cai nghiện với các chương trình kinh tế - xã hội khác tại địa phương để thực hiện.
- Chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá kết quả việc thực hiện, báo cáo UBND tỉnh và các ngành liên quan theo kê hoạch của đề án.
d) Sở Lao động TB&XH:
Chủ trì và phối hợp với các ngành, Công an, Y tế, các đoàn thể có trách nhiệm triển khai thực hiện đề án. Chỉ đạo việc xây dựng mới các cơ sở quản lý, giải quyết việc làm sau cai cho người nghiện ma túy tại các huyện; mở rộng 2 Trung tâm Giáo dục lao động xã hội tỉnh; phối hợp với các ban, ngành, đoàn thề xây dựng và trình UBND tỉnh ban hành, Quy chế cai nghiện theo 3 giai đoạn; các cơ chế chính sách khuyến khích, huy động các nguồn lực đồng thời hướng dẫn chỉ đạo các huyện huy động nguồn lực để cai nghiện, hướng nghiệp, dạy nghề tạo việc làm cho người sau cai nghiện theo đề án.
đ) Công an tỉnh.
Chủ trì phối hợp với các ngành, các cấp thực hiện công tác đấu tranh triệt phá các đường dây tụ điểm buôn bán ma túy, lập hồ sơ và đưa đối tượng nghiện ma túy vào các cơ sở cai nghiện khi có quyết định của cơ quan có thẩm quyền. Chỉ đạo công an huyện bô trí cán bộ trực tiếp làm việc tại các cơ sơ. Có trách nhiệm xây dựng phương án, chỉ đạo thực thi tốt công tác đảm bảo an ninh trật tự; đặc biệt tập trung công tác ngăn ngừa thẩm lậu chất ma túy vào các cơ sở và các Trung tâm. Hướng dẫn, tập huấn cho cán bộ làm công tác bảo vệ, hỗ trợ trang thiết bị, phương tiện để quản lý người sau cai nghiện (nếu cần thiết) phối hợp vối các cơ sở cai nghiện, chính quyền địa phương điều tra bắt giữ các đối tượng nghiện bỏ trôn tại các Cơ sở và các Trung tâm.
e) Sở Ytế:
- Chịu trách nhiệm chỉ đạo chuyên môn, tổ chức tập huấn nghiệp vụ về công tác cai nghiện, chỉ đạo các trung tâm y tê huyện và y tế cơ sở tổ chức cai nghiện ma túy, phục hồi sức khỏe. Trực tiếp giúp UBND các cấp và các cơ sở cai nghiện điều trị cắt cơn nghiện, khám chữa bệnh thông thường và kiểm tra, xét nghiệm chất ma túy; lập số theo dõi sức khỏe người cai nghiện ma túy trong thời gian cai nghiện. Chủ trì phối hợp với các ngành liên quan tổ chức tập huấn nghiệp vụ về công tác cai nghiện.
g) Các Sở, Ban, ngành, đoàn thể chính trị - Xã hội.
Tỉnh đoàn thanh niên chủ trì, phối hợp với các ngành liên quan đẩy nhanh tiến độ xây dựng Tổng đội thanh niên xung phong tổ chức cai nghiện, dạy nghề, giải quyết việc làm sau cai đã được UBND tỉnh phê duyệt để đầu năm 2005 đưa Tổng đội vào hoạt động. Có kế hoạch động viên thu hút lực lượng thanh niên xung phong, trí thức trẻ tình nguyện tham gia công tác cai nghiện, dạy nghề, giải quyết việc làm sau cai cho người nghiện ma túy nhất là ở xã.
- Sở Nội vụ, Sở Kê hoạch Đầu tư, sỏ Tài chính, Ngân hàng chính sách, Kho bạc Nhà nước căn cứ vào chức năng nhiệm vụ của ngành có trách nhiệm bố trí cán bộ, kinh phí và tạo điều kiện cho vay vốn phục vụ công tác cai nghiện, dạy nghề và giải quyết việc làm sau cai cho người nghiện ma túy.
- Đề nghị ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các Đoàn thế vận động các tầng lớp nhân dân, các tổ chức kinh tế xã hội và các doanh nghiệp đóng trên địa bàn tham gia tích cực vào công tác phòng chống ma túy đặc biệt là công tác cai nghiện, dạy nghề, tạo việc làm sau cai cho người nghiện ma túy.
- Các ngành, các cơ quan, đơn vị đóng trên địa bàn tỉnh phối hợp vối các cơ quan chức năng có trách nhiệm đấu tranh phòng, chống ma túy trong nội bộ cơ quan và chỉ đạo các đơn vị trực thuộc phối hợp tham gia tổ chức thực hiện công tác phòng, chống ma túy trên địa bàn.
h) Các Trung tâm Giáo dục lao động xã hội tỉnh, Tổng đội thanh niên xung phong và các cơ sởtại các huyện, các cơ sở dạy nghề, các doanh nghiệp và gia đình có người sau cai nghiện, với chức năng nhiệm vụ của mình, tổ chức quản lý, hướng nghiệp, dạy nghề, tạo việc làm cho người sau cai nghiện ma túy và phải chủ động xây dựng kế hoạch, chỉ tiêu cụ thể, tìm nhiều biện pháp để tổ chức thực hiện đạt kết quả.
3. Từ đề án chung của tỉnh, các sở ban ngành, đoàn thể, các huyện, các xã, phải tiến hành xây dựng ngay chương trình, kế hoạch, giải pháp thực hiện công tác cai nghiện, hướng nghiệp, dạy nghề, tạo việc làm sau cai cho người nghiện thuộc phạm vi đơn vị mình và tổ chứctriển khai thực hiện, đảm bảo cho người sau cai nghiện được học nghề, có việc làm thực hiện thành công đề án nhằm ngăn chặn tái nghiện, từng bước đẩy lùi, xóa bỏ tệ nạn ma túy trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
Một số đề nghị:
1. Đề nghị Chính phủ và các Bộ ngành Trung ương tiếp tục hỗ trợ đầu tư kinh phí giúp Nghệ An xây dựng và mờ rộng các Trung tâm cai nghiện, dạy nghề, tạo việc làm sau cai.
2. Đề nghị Ban Thường vụ Tỉnh ủy tổng kết 3 năm thực hiện Chỉ thị số 07 trên cơ sở đó ra Nghị quyết của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về phòng chống ma túy - cai nghiện, hướng nghiệp, ‘dạy nghề, tạo việc làm sau cai (để huy động thêm sức mạnh cả hệ thông chính trị từ tỉnh đến cơ sở và toàn dân thực hiện).
3. Đề nghị Ban Thường vụ Tỉnh ủy đưa nhiệm vụ phòng chống ma túy, cai nghiện, hướng nghiệp, dạy nghề, tạo việc làm sau cai vào nội dung tiêu chí đánh giá xếp loại thi đua hàng năm đối với tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể.