Quay lại

Quyết định 50/2002/QĐ-UB về việc ban hành Đề án phát triển sự ngiệp Văn hóa - Thông tin đến năm 2005 và định hướng đến năm 2010

UBND TỈNH HƯNG YÊN
-------

Số: 50/2002/QĐ-UB

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------------------

tỉnh Hưng Yên, ngày 21 tháng 10 năm 2002

QUYẾT ĐỊNH CỦA UBND TỈNH HƯNG YÊN

Về việc ban hành Đề án phát triển sự ngiệp Văn hóa - Thông tin đến năm 2005 và định hướng đến năm 2010

________________________

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND ngày 21/6/1994;

Căn cứ Nghị quyết số 18/NQ-TU ngày 01/7/2002 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hưng Yên về phát triển sự nghiệp văn hóa - thông tin đến năm 2005 và định hướng đến năm 2010.

Xét đề nghị của Giám đốc Sở Văn hóa Thông tin tại Tờ trình số 180/TT-VHTT ngày 18/9/2002.

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1: Ban hành kèm theo quyết định này đề án phát triển sự nghiệp Văn hóa – Thông tin đến năm 2005 và định hướng đến năm 2010.

Điều 2: Giao cho Sở Văn hóa Thông tin tổ chức triển khai và phối hợp với các sở, ngành có liên quan, các địa phương thực hiện tốt đề án phát triển sự nghiệp Văn hóa – Thông tin đến năm 2005 và định hướng đến năm 2010.

Điều 3: Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký.

Các ông Chánh Văn phòng UBND tỉnh, Giám đốc Sở Văn hóa Thông tin, thủ trưởng các sở, ban, ngành tỉnh, Chủ tịch UBND các huyện, thị xã căn cứ quyết định thi hành./.

T/M UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH

CHỦ TỊCH

(Đã ký)

Nguyễn Đình Phách

ĐỀ ÁN

PHÁT TRIỂN SỰ NGHIỆP VĂN HÓA – THÔNG TIN ĐẾN NĂM 2005 VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN 2010

(Ban hành kèm theo Quyết định số 50/2002/QĐ-UB ngày 21 tháng 10 năm 2002 của UBND tỉnh Hưng Yên)

________________________

KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH

Nằm trong vùng châu thổ sông Hồng, tỉnh Hưng Yên có bề dày truyền thống và tiềm năng văn hóa phong phú, cả văn hóa vật thể và phi vật thể. Hưng Yên là quê hương của nhiều danh nhân, vănnghệ sỹ nổi tiếng. Trong nhân dân còn lưu truyền những phong tục, tập quán tốt đẹp. Song thời gian qua và thiên tai, địch họa, nhiều di sản văn hóa truyền thống của tỉnh ta đã bị mai một, xuống cấp. Thời kỳ những năm sáu mươi và kinh tế tập thể, Hưng Yên được coi là “cái nôi của Gia đình Văn hóa”, nhiều năm duy trì phong trào văn hóa, văn nghệ quần chúng mạnh mẽ, sôi nổi. Song do những nguyên nhân khách quan của thời kỳ hợp nhất tỉnh và chuyển đổi cơ chế, sự nghiệp Văn hóa thông tin (VHTT), nhất là cơ sở vật chất các thiết chế chưa được đầu tư thích đáng.

Từ tái lập tỉnh đến nay, cùng với các ngành văn hóa - xã hội khác, sự nghiệp văn hóa - thông tin Hưng Yên đã có bước phát triển đáng kể. Cơ sở vật chất, các thiết chế, bộ máy tổ chức, biên chế cán bộ đã nhanh chóng được tăng cường. Hoạt động văn hóa - thông tin đã phục vụ kịp thời và có hiệu quả cá nhiệm vụ chính trị. Phong trào từ chỗ còn nhiều yếu kém, thiếu hụt đã vươn lên trở thành một tỉnh có phong trào khá, nhất là phong trào xây dựng làng văn hóa, gia đình văn hóa, thực hiện NSVH mới trong việc cưới, việc tang và lễ hội; trùng tu tôn tạo di tích văn hóa - lịch sử; quản lý các hoạt động dịch vụ văn hóa, đảm bảo môi trường văn hóa diễn ra lành mạnh. Công tác văn hóa thông tin đã có đóng góp to lớn vào nhiệm vụ giáo dục tư tưởng chính trị, xây dựng đạo đức, lối sống mới, nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân, góp phần ổn định chính trị, an ninh xã hội, phát triển kinh tế trong tỉnh.

Hoạt động văn hóa - thông tin mấy năm qua vận hành theo chủ trương, định hướng của Nghị quyết Trung ương V (khóa 8) và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV, XV nhưng chưa có quy hoạch tổng thể, chưa xác định được kế hoạch, mục tiêu phát triển đối với những lĩnh vực chủ yếu. Bởi vậy, cần phải xây dựng đề án quy hoạch với phương hướng, mục tiêu, kế hoạch phù hợp, đề ra những giải pháp tích cực, đồng bộ, đưa sự nghiệp văn hóa - thông tin phát triển tương xứng với nhịp độ phát triển kinh tế, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Văn hóa - thông tin gồm nhiều lĩnh vực. Trên cơ sở Nghị quyết của Ban thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành, đề án này đề xuất hoạch định những vấn đề vừa mang tính cơ bản vừa là nhiệm vụ bức thiết của tỉnh ta giai đoạn từ nay đến 2005 và định hướng đến 2010. Đề án bao gồm ba nội dung chính.

1. Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở

2. Xây dựng và phát triển hệ thống thiết chế văn hóa thông tin

3. Bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa

Phần thứ nhất

TÌNH HÌNH VÀ KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN SỰ NGHIỆP VĂN HÓA – THÔNG TIN GIAI ĐOẠN 1997-2001

I. Những kết quả chính đã đạt được

1. Về đời sống văn hóa

- Văn hóa nghe nhìn: Sự hưởng thụ văn hóa những năm gần đây chủ yếu thông qua các phương tiện nghe nhìn. Theo thống kê đến năm 2000 có 55% gia đình có ti vi, 35% có radio, casette. Các huyện đều có đài truyền thanh. Các xã có trạm truyền thanh.

- Thưởng thức nghệ thuật công cộng: Đoàn chèo của tỉnh biểu diễn mỗi năm trên 100 buổi phục vụ trên 10 vạn lượt người xem. Hàng năm có trên mười đoàn nghệ thuật của các tỉnh bạn, của Trung ương về biểu diễn tại thị xã, thị trấn.

Hai đội chiếu bóng lưu động và rạp Phố Hiến mỗi năm chiếu gần 700 buổi phục vụ trên 10 vạn lượt người xem.

Phong trào văn nghệ quần chúng được phục hồi và có bước khởi sắc. Với việc thành lập các đội văn nghệ, chiếu chèo, các loại hình sinh hoạt CLB phát triển rộng khắp, thu hút đông đảo thanh thiếu niên, phụ nữ, người về hưu tham gia.

- Về văn hóa đọc: Tổng số sách trong các thưu viện công cộng là 196.440 cuốn, bình quân 0,18 cuốn sách/ người.

- Văn hóa tín ngưỡng: Tỉnh ta có trên 360 lễ hội truyền thống được tổ chức hàng năm. Trong đó, có nhiều lễ hội có quy mô lớn, thu hút đông đảo nhân dân các địa phương tham gia như: Hội Chử Đồng Tử - Tiên Dung, Phù Ủng, Đào Nương, Tống Trân - Cúc Hoa…

- Các dịch vụ văn hóa: Tỉnh ta có 60 cơ sở kinh doanh dịch vụ sách báo, văn hóa phẩm, 22 cửa hàng karaoke, 20 cửa hàng kinh doanh băng, đĩa hình, 41 cửa hàng kinh doanh băng nhạc, 11 cửa hàng dịch vụ quảng cáo, 14 cơ sở dịch vụ trò chơi điện tử.

- Về phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa: Không bị lệ thuộc nhiều bởi hoàn cảnh kinh tế và cơ sở vật chất, cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” được triển khai rộng khắp, tiêu biểu là phong trào xây dựng gia đình văn hóa, làng văn hóa, thực hiện nếp sống mới trong việc cưới, việc tang và lễ hội.

Đến hết năm 2001, toàn tỉnh có 175.000 gia đình (chiếm 65%) được công nhận gia đình văn hóa.

Năm 1996, có 7 làng văn hóa, đến nay đã có 297 làng, trong đó 36 làng công nhận sau 5 năm vẫn giữ vững phong trào và có bước phát triển tốt, xuất hiện một số làng văn hóa tiêu biểu. Phong trào xây dựng khu phố, cơ quan đơn vị văn hóa đang được triển khai trong các cơ quan, đơn vị, lực lượng vũ trang, trường học, doanh nghiệp…

Nếp sống văn hóa mới đã và đang được hình thành trong sinh hoạt cộng đồng, trong việc giỗ, tết, cưới, tang, sinh nhật, mừng thọ theo hướng giữ gìn thuần phong mỹ tục và bản sắc văn hóa dân tộc.

Các phong trào do Ủy ban MTTQ và đoàn thể chủ trì như: “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống mới ở khu dân cư”, “Đền ơn, đáp nghĩa, xóa đói giảm nghèo”, “Phụ nữ giúp nhau làm kinh tế”… liên tục được đẩy mạnh, không chỉ đem lại tác dụng về sản xuất và đời sống mà còn có ý nghĩa nhân văn sâu sắc.

2. Về xây dựng các thiết chế văn hóa.

Sau 5 năm tái lập, Tỉnh ủy HĐND, UBND tỉnh đã quan tâm đầu tư tu sửa và xây dựng mới một số thiết chế văn hóa cấp tỉnh như: Nhà kho bảo tàng, nâng cấp Nhà văn hóa, trung tâm phát hành phim và chiếu bóng. Một số nhà văn hóa cấp huyện cũng được tu sửa, nâng cấp và xây dựng mới nhà văn hóa Phù Cừ. Phong trào xây dựng làng văn hóa đã thúc đẩy thực hiện xã hội hóa, huy động các nguồn lực đóng góp của nhân dân, xây dựng nhà văn hóa, đội văn nghệ, câu lạc bộ ở cơ sở. Toàn tỉnh có 3 nhà văn hóa huyện, 8 thư viện huyện, có 116 xã, phường có nhà văn hóa, 105 cơ sở có điểm vui chơi trẻ em.

Đội ngũ cán bộ được tăng cường. Có 48% cán bộ văn hóa cấp tỉnh trình đồ đại học trở lên, 47% cán bộ văn hóa thông tin cấp huyện thị xã có trình độ đại học trở lên.

3. Hoạt động tuyên truyền cổ động các nhiệm vụ chính trị

Hoạt động thông tin cổ động đã bám sát các nhiệm vụ chính trị, phát huy vai trò của văn hóa thông tin trên mặt trận tư tưởng – văn hóa. Đã tổ chức hàng trăm lượt tuyên truyền cổ động, kẻ vẻ trên 5000m2 pano các loại, in ấn trên 10 vặn tài liệu, tranh ảnh tuyên truyền cổ động. Ngành VHTT đã tham mưu và chủ trì tổ chức thành công nhiều hoạt động văn hóa văn nghệ có quy mô lớn, như phục vụ các kỳ Đại hội Đảng bộ, bầu cử Quốc hội, HĐND, tổ chức ngày hội văn hóa truyền thống và phục vụ kỷ niệm những ngày lễ lớn năm 2000, triển lãm thành tựu kinh tế – văn hóa – xã hội tỉnh Hưng Yên sau 5 năm tái lập, kỷ niệm 170 năm thành lập tỉnh.

Các hoạt động này đã góp phần đưa Nghị quyết của Đảng, chủ trương chính sách của Nhà nước vào cuộc sống: Cổ vũ động viên cán bộ và nhân dân trong tỉnh thi đua lao động, học tập thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế- xã hội đã đề ra.

4. Công tác quản lý nhà nước về văn hóa.

Công tác quản lý nhà nước về văn hóa thường xuyên được coi trọng. Hoạt động báo chí xuất bản đã được quy hoạch phát triển. Quản lý di tích, lễ hội, thực hiện nếp sống văn hóa mới trong việc cưới, việc tang, HĐND, UBND tỉnh đã ra những văn bản quy định, ngành VHTT đã có hướng dẫn cụ thể. Việc quản lý, cấp phép hoạt động biểu diễn, xuất bản, dịch vụ văn hóa đã được cải tiến, gắn việc xóa bỏ một số giấy phép với việc phân cấp quản lý. Công tác thanh tra, kiểm tra tiến hành thường xuyên, kịp thời xử lý các vi phạm.

Nhìn chung môi trường văn hóa trong tỉnh diễn ra lanh mạnh, hoạt động biểu diễu, xuất bản, quảng cáo và kinh doanh văn hóa phát triển đúng hướng. Chỉ tính riêng lĩnh vực sáng tác, xuất bản từ năm 1997 đến năm 2001 đã xuất bản được 171 đầu tạp chí, tập san, xuất bản phẩm với trên 190 nghìn bản, trong đó có nhiều tác phẩm, công trình nghiên cứu văn hóa có giá trị.

5. Bảo tồn di sản văn hóa

Toàn tỉnh có gần một nghìn di tích lịch sử văn hóa. Bộ Văn hóa - thông tin đã công nhận 139 di tích quốc gia. Cùng với di tích lịch sử văn hóa, tỉnh ta có hàng trăm lễ hội truyền thống được tổ chức hàng năm, bảo tồn nhiều lĩnh vực sinh hoạt văn hóa dân gian. Một số làng nghề truyền thống mang đậm sắc thái văn hóa, như: Đúc đồng (Đại Đồng- Văn Lâm), làm hương xạ (Cao Thôn - Kim Động), nghề chạm bạc (Phù Ủng, Ân Thi)…

Để bảo tồn di sản văn hóa truyền thống, từ năm 1997 -2001, Nhà nước đã đầu tư chống xuống cấp cho 43 di tích với số kinh phí 1.605 triệu đồng. Quần thể di tích Phố Hiến đã hoàn thành dự án của Bộ văn hóa - Thông tin (nhóm C) với 4 công trình: Văn Miếu, Chùa Chuông, Đền Mẫu, đình chùa Hiến. Đã triển khai các dự án quy hoạch bảo tồn di tích và các công trình tưởng niệm danh nhân; Dự án Chử ĐồngTử - Tiên Dung, dự án công viênHồ Bán Nguyệt, dự án khu di tích Hải Thượng Lãn Ông, khu di tích Phù Ủng, xây dựng nhà tưởng niệm liệt sỹ Tô Hiệu, Cố tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, đồng chí Lê Văn Lương, danh nhân Hoàng Hoa Thám, Nguyễn Thiện Thuật, bà Hoàng Thị Loan (thân mẫu Hồ Chủ Tịch). Ngành VHTT phối hợp với Viện Nghiên cứu văn hóa Nghệ thuật nghiên cứu bảo tồn văn hóa phi vật thể. Hát trống quân, Lễ rước nước (Dạ Trạch - Khoái Châu). Lễ hội đền Đậu An (An Viên – Tiên Lữ), nghề làm hương Cao Thôn (Bảo Khê - Kim Động).

6. Công tác xã hội hóa các hoạt động VH-TT

Công tác xã hội hóa các hoạt động văn hóa được đẩy mạnh. Kinh phí chương trình mục tiêu quốc gia và một phần kinh phí sự nghiệp văn hóa của tỉnh và các huyện, thị được đầu tư khuyến khích có trọng điểm, khích lệ các địa phương huy động nguồn lực trong nhân dân tham gia, xây dựng các thiết chế và tổ chức, nuôi dưỡng các hoạt động văn hóa, nghệ thuật. Nhân dân các địa phương đã tích cực tham gia đóng góp mỗi năm trên 4 tỷ đồng trùng tu, tôn tạo di tích, xây dựng Nhà văn hóa, tủ sách thành lập các đội văn nghệ, phát triển các loại hình câu lạc bộ…

Ở nhiều lĩnh vực đã xuất hiện những nhân tố mới, những điển hình tiên tiến về hoạt động xãhội hóa như: Đội chèo làng Thiết Trụ (Khoái Châu), xã Thanh Long (Yên Mỹ), Nhà văn hóa xã Mễ Sở (Văn Giang), CLB làng Lỗ Xã (Mỹ Hào), mô hình tủ sách gia đình ông Bùi Đình Thằng (huyện Phù Cừ)…

II. Nguyên nhân kết quả

- Sự nghiệp Văn hóa - Thông tin được Đảng và Nhà nước quan tâm hơn trước: Nghị quyết Trung ương V (khóa 8) “Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội. Nghị quyết đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV và XV nhấn mạnh những chủ trương, nhiệm vụ phát triển sự nghiệp VH-TT tỉnh nhà. Tỉnh ủy khóa XIV đã có hội nghị chuyên đề và ra nghị quyết về “Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Trung ương V (khóa 8)” về văn hóa.

- Kinh tế tỉnh ta phát triển mạnh, chính trị ổn định, trình độ dân trí nâng lên, đời sống nhân dân được cải thiện đã có tác động tích cực tới hoạt động VHTT.

- Ngành văn hóa thông tin đã chủ động tham mưu cho cấp ủy, chính quyền các cấp, đồng thời đã tích cực sáng tạo, nỗ lực tổ chức triển khai các hoạt động, xây dựng các công trình văn hóa.

- Các địa phương, các ban ngành, đoàn thể phối hợp triển khai các hiệu quả các lĩnh vực hoạt động, nhất là đẩy mạnh trong phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng công trình văn hóa”.

- Nhân dân vừa là đối tượng hưởng thụ vừa là lực lượng hoạt động và sáng tạo văn hóa, đã nhiệt tình hưởng ứng và ủng hộ các hoạt động văn hóa thông tin, từ trong phong trào đã xuất hiện một số nhân tố mới về thực hiện xã hội hóa.

III. Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân

- Nhận thức của nhiều cán bộ lãnh đạo, quản lý còn xem nhẹ vấn dề nhiệm vụ văn hóa tinh thần, chưa coi văn hóa là động lực, mục tiêuphát triển kinh tế - xã hội.

- Đội ngũ cán bộ của ngành còn thiếu, phần lớn mới được tuyển dụng sau tái lập tỉnh, trình độ còn bất cập so với yêu cầu nhiệm vụ, chưa có định biên cán bộ văn hóa xã, phường.

- Hệ thống thiết chế văn hóa, như Thư viện tỉnh, Nhà văn hóa thông tin, Nhà Bảo tàng, Đoàn nghệ thuật… chưa đủ tầm để xếp loại theo tiêu chuẩn thiết chế văn hóa cấp tỉnh. Các huyện, thị chưa thành lập được trung tâm văn hóa thông tin là đơn vị sự nghiệp để chuyên lo hoạt động nghiệp vụ. Cơ sở vật chất, trang thiết bị hoạt động văn hóa thông tin cơ sở còn thiếu, lạc hậu. Thị trường văn hóa và dịch vụ văn hóa còn mỏng, chưa có điểm sinh hoạt văn hóa, giải trì tầm cỡ, thiếu vằng loại hình dịch vụ mang tính nghệ thuật, như thông tin điện tử, galery… Bình quân số sách trên đầu người và mức hưởng thụ nghệ thuật còn thấp. Việc thực hiện nếp sống mới trong việc tổ chức đám cưới, đám tang, hội nghị vẫn còn tình trạng phô trương, lãng phí. Các lễhội còn nặng về phần lễ, tình trạng mê tín dị đoan chậm được khắc phục. Việc đầu tư tôn tạo di tích, hầu hết mới được xử lý việc “Cấp cứu” chống xuống cấp, mà chưa giải quyết được yêu cầu tôn tạo. Các dự án trùng tu, tôn tạo di tích gắn với phát triển du lịch triển khai chậm, do mất nhiều thời gian chờ đợi giải quyết nhiều thủ tục…

* Nguyên nhân tồn tại, hạn chế

- Tỉnh mới tái lập, địa bàn Hưng Yên hầu như phải xây dựng từ đầu các thiết chế văn hóa, trong khi xây dựng các công tình văn hóa đòi hỏi phải đầu tư cao về kỹ thuật, mỹ thuật, cần phải có thời gian. Ngân sách của tỉnh phải tập trung cho các nhu cầu kiến thiết các cơ sở hạ tầng và nhu cầu kinh tế - xã hội cấp bác khác.

- Tiềm lực của ngành văn hóa thông tin còn yếu. Nhiều hoạt động đòi hỏi phải xã hội hóa những nguồn lực trong nhân dân còn mỏng, chủ yếu để xây dựng các cơ sở hạ tầng thiết yếu như điện, đường, trường, trạm, xóa đói giảm nghèo, dành cho sự nghiệp VHTT còn ít ỏi.

- Lối sống thực dụng, mặt trái của cơ chế thị trường tác động tiêu cực đến các hoạt động văn hóa và dịch vụ văn hóa, dẫn đến xu hướng giải trí đơn thuần và biểu hiện thương mại hóa, khiến cho môi trường văn hóa trở nên phức tạp.

Phần thứ hai

PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN SỰ NGHIỆP VĂN HÓA – THÔNG TIN ĐẾN 2005 VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2010

I. Mục tiêu

1. Mục tiêu chung

Phát huy truyền thống yêu nước và cách mạng, ý thức dân chủ và tinh thần đoàn kết: Nâng cao trình độ, năng lực và mức hưởng thụ văn hóa chonhân dân: làm cho văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng người, từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng tỉnh Hưng Yên giầu mạnh; góp phần xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đạm đà bản sắc văn hóa dân tộc.

2. Những mục tiêu cụ thể

- Củng cố cơ sở vật chất, thiết chế văn hóa ở cơ sở. Xây dựng hoàn chỉnh và đồng bộ các thiết chế văn hóa thông tin chủ yếu cấp tỉnh, huyện thị và cơ sở, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động.

- Xây dựng đời sống văn hóa, môi trường văn hóa phong phú, lành mạnh. Đẩm bảo chỉ tiêu chung về hưởng thụ văn hóa của nhân dân. Tạo điều kiện và động viên các lực lượng xã hội tham gia hoạt động và sáng tạo văn hóa. Đẩy mạnh nâng cao chất lượng cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, trọng tâm là phong trào xây dựng gia đình văn hóa, làng văn hóa, Khu phố, cơ quan, đơn vị văn hóa, thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội.

- Giải quyết cơ bản việc chống xuống cấp di tích, đi vào khai thác và phát huy giá trị của các di tích lịch sử văn hóa trong việc giáo dục truyền thống, phát triển du lịch văn hóa.

- Tăng cường năng lực quản lý nhà nước, ngăn chặn và xử lý kịp thời các vi phạm trong lĩnh vực văn hóa. Có biện pháp tạo cơ chế thúc đẩy mạnh hơn việc xã hội hóa các hoạt động văn hóa.

- Các chỉ tiêu chính đạt được đến năm 2005 và năm 2010.

+ Tỷ lệ gia đình được công nhận Gia đình văn hóa: 80% vào năm 2005 và trên 85% năm 2010.

+ Năm 2005 đạt 30% khu phố, 50% cơ quan, đơn vị, 50% làng đạt tiêu chuẩn khu phố văn hóa, cơ quan đơn vị, làng văn hóa. Đến năm 2010, có 50% khu phố văn hóa, 85% cơ quan, đơn vị văn hóa, 70% làng văn hóa.

+ Các thiết chế văn hóa của tỉnh đến năm 2005 đủ tiêu chuẩn xếp hàng 3, hạng 2; năm 2010, đủ tiêu chuẩn xếp hạng 1.

+ Năm 2005, có 50% và đến năm 2010 có 100% số huyện, thị thành lập Trung tâm văn hóa thông tin (VHTT). Năm 2010 có 100% trung tâm VHTT huyện, thị có nhà văn hóa đa chức năng.

+ Đến năm 2005, có 80% số làng, khu phố, 90% số xã phường, thị trấn có nhà văn hóa, tủ sách, đội văn nghệ tuyên truyền. Năm 2010, 100% số làng, khu phố, xã, phường, thị trấn có nhà văn hóa, tủ sách, đội văn nghệ tuyên truyền, phòng truyền thống.

+ Đến năm 2005, hoàn thành kiểm kê khoa học di tích và cổ vật. Năm 2010, hoàn thành chống xuỗng cấp cho 90% di tích được xếp hạng quốc gia.

II. Những nhiệm vụ cụ thể.

A. Về xây dựng đời sống văn hóa cơ sở.


Coi trọng phát triển phong trào văn nghệ quần chúng, sinh hoạt câu lạc bộ ở cơ sở. Đầu tư hiện đại hóa trang thiết bị, hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ, từng bước nâng cao chất lượng hoạt động. Phấn đấu mỗi làng, xí nghiệp, doanh nghiệp đều thành lập tổ đội văn nghệ, thành lập các câu lạc bộ sở thích , ưu tiên thành lập các câu lạc bộ văn hóa truyền thống, như: Hát ca trù, trống quân, Câu lạc bộ Hán – Nôm, thư pháp…


- Chủ động đẩy mạnh phát triển các loại hình dịch vụ văn hóa giải trí rộng khắp, phong phú. Từ nay đến năm 2005, củng cố và đổi mới cơ sở vật chất mạng lưới cửa hàng sách báo văn hóa phẩm của tỉnh và các huyện, thị xã do doanh nghiệp nhà nước quản lý.


- Phát triển mạng lưới cơ sở đại lý băng, đĩa hình do Trung tâm Phát hành phim và Chiếubóng tỉnh quản lý và các cơ sở tư nhân tham gia, nâng cao chất lượng phục vụ đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của nhân dân. Khuyến khích phát triển đi đôi với quản lý dịch vụ kinh doanh Karaoke, các tụ điểm cả nhạc, vũ trường, dịch vụ Internet, các cửa hàng cho thuê sách báo, trò chơi điện tử, dịch vụ quảng cáo, dịch vụ nhiếp ảnh, mỹ thuật….


- Phát huy kết quả đã đạt được, tiếp tục duy trì, nâng cao chất lượng hiệu quả các phong trào trong cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, trọng tâm là phong trào xây dựng gia đình văn hóa, xây dựng làng văn hóa, thực hiện nếp sống văn minh việc cưới, việc tang và lễ hội. Cùng với vận động thực hiện nếp sống văn hóa mới, khắc phục về cơ bản tình trạng phô trương lãng phí trong việc cưới, việc tang, xây cất mồ mả, tình trạng mê tín dị đoan và thương mại hóa các hoạt động văn hóa.

B. Về xây dựng các thiết chế văn hóa


Tập trung đầu tư xây dựng, nâng cấp “chuẩn hóa” các đơn vị sự nghiệp cấp tỉnh, thiết chế văn hóa huyện, cơ sở:

1. Ở cấp tỉnh

- Nhà văn hóa: Từ nay đến năm 2005 thành lập Trung tâm văn hóa thông tin với 3 bộ phận: Nhà văn hóa, Nhà triển lãm, Đội thông tin lưu động. Đầu tư trang thiết bị, tăng biên chế nghiệp vụ, tổ chức hoạt động đúng chức năng của Trung tâm. Đủ tiêu chuẩn xếp hạng 3.

Từ năm 2005 đến 2010, nâng cấp đủ tiêu chuẩn xếp hạng 2, hạng Xây dựng mọt nhà văn hóa mới ở điểm trung tâm thủ phủ của tỉnh, có quy mô đáp ứng đủ chức năng hoạt động, với trang thiết bị hiện đại (Nhà văn hóa hiện nay chuyển thành nhà văn hóa khu vực, gắn hoạt động sinh hoạt văn hóa giải trí khu vực, gắn hoạt động sinh hoạt văn hóa giải trí khu vực công viên Hồ Bán Nguyệt)

- Thư viện: Đến năm 2005 hoàn thành xây dựng thư viện tỉnh, có quy mô về cơ sở vật chất, biên chế cán bộ nghiệp vụ, được trang bị công nghệ thông tin hiện đại. Đủ tiêu chuẩn xếp hạng 3, hạng 2.

Từ năm 2005 đến năm 2010, xúc tiến nối mạng Internet với Bộ văn hóa và Thư viện quốc gia, mở rộng diện phục vụ. Đủ tiêu chuẩn xếp hạng

- Nhà Bảo tàng: Từ nay đến năm 2005, triển khai khu trưng bầy ngoài trời, đầu tư trang thiết bị bảo quản kho hiện vật, đủ tiêu chuẩn xếp hạng 3, hạng 2.

Từ sau năm 2005-2010, xây dựng Nhà Bảo tàng, đủ tiêu chuẩn xếp hạng

Cùng với Bảo tàng, đầu tư để bảo tồn vính cửu Nhà lưu niệm Bác Hồ, dựng tượng cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh và một số danh nhân văn hóa lịch sử tiêu biểu.

- Phát triển điện ảnh:

Trang bị máy chiếu phim nhựa, nâng cao rạp chiếu bóng Phố Hiến. Xây dựng Trung tâm dịch vụ điện ảnh băng hình tại khu vực Phố Nối. Trang bị máy chiếm phim nhựa cho Nhà văn hóa huyện Mỹ Hào để chiếu phim phục vụ khu công nghiệp. Tăng cường năng lực của bộ phận in nhân băng, đĩa hình, mở rộng mạng lưới của hàng dịch vụ băng hình ra toàn tỉnh.

Đổi mới trang thiết bị và phương thức hoạt động của đội chiếu bóng lao động, theo hướng gắn với hoạt động văn nghệ và tuyên truyền cổ động phục vụ các nhiệm vụ chính trị và phổ biến khoa học kỹ thuật.

Đến năm 2010, các nhà văn hóa huyện đều được trang bị máy chiếu phim hiện đại. Trung tâm điện ảnh của tỉnh có năng lực đảm nhận tổ chức sản xuất băng, đĩa hình phục vụ tại địa phương và quảng bá kinh tế, văn hóa - du lịch của Hưng Yên trong nước và nước ngoài.

- Đoàn nghệ thuật.

Đoàn chèo tỉnh: Đến năm 2005, tiếp tục nâng cao khả năng biểu diễn và đổi mới đội ngũ diễn viên, nhạc công, bồi dưỡng tài năng, bổ biên chế đạo diễn, tác giả, họa sĩ, thiết kế mỹ thuật, chỉ huy dàn nhạc. Thường xuyên có từ 5-10 diễn viên, nhạc công trẻ được đào tạo tại đoàn và các trường nghệ thuật để bổ sung, trẻ hóa đội ngũ. Xây dựng nhà tập văn công kiêm chiếu chèo. Từng bước thực hiện lấy thu bù chi, xây dựng Quỹ phát triển nghệ thuật của đoàn.

Cùng với Đoàn chèo, xây dựng Câu lạc bộ ca - múa - nhạc có quy mô và trang bị như một đoàn nghệ thuật bán chuyên nghiệp, hoạt động kiêm nhiệm, trực thuộc Trung tâm Văn hóa - Thông tin.

Khuyến khích và hỗ trợ thành lập một số đoàn nghệ thuật tư nhân, do các Trung tâm văn hóa thông tin cấp huyện, thị bảo trợ.

- Trường văn hóa nghệ thuật.

Thành lập và đưa trường Nghiệp vụ Văn hóa thông tin vào hoạt động, bồi dưỡng nghiệp vụ văn hóa thông tin cho cán bộ văn hóa cơ sở, bồi dưỡng năng khiếu nghệ thuật. Xây dựng trường đủ phòng học và trang thiết bị cho 100-150 học viên. Đến năm 2005, nâng cấp thành trường trung cấp văn hóa nghệ thuật, phối hợp với các trường đại học mở lớp Đại học văn hóa nghệ thuật.

- Báo chí, xuất bản

Vế xuất bản: Từ nay đến năm 2005, hoàn thành xuất bản sách Địa chí Hưng Yên, lịch sử Đảng bộ các huyện, thị, phường, xã và xuất bản các công trình nghiên cứu văn hóa, khoa học xã hội của địa phương.

Giữ nguyên số cơ quan báo và tạp chí theo quy hoạch đã được duyệt: Báo Hưng Yên, đài phát thanh truyền hình, Tạp chí Phố Hiến, cùng các tập san ra không theo định kỳ.

Nâng cấp trang thiết bị Xí nghiệp In của tỉnh đủ năng lực làm chủ thị trường in của tỉnh và liên doanh sản xuất với các xí nghiệp in của các tỉnh bạn.

2. Cấp huyện, thị xã

Từ nay đến năm 2005, có 100% huyện, thị xã thành lập được Trung tâm VHTT, bao gồm: Nhà văn hóa với các trang thiết bị sinh hoạt văn hóa nghệ thuật, thư viện, phòng truyền thống.

Bổ sung cán bộ đảm bảo công tác quản lý nhà nước của Phòng VHTT -TT và các hoạt động sự nghiệp của Trung tâm văn hóa thông tin. Ngoài số sách của thư viện phục vụ tại chỗ, 100% Trung tâm văn hóa huyện đều có tủ sách luân chuyển phục vụ bạn đọc ở làng xã, cơ quan, doanh nghiệp…

Đối với thị xã Hưng Yên, chủ yếu phối hợp khai thác sử dụng cơ sở vật chất của các thiết chế văn hóa do tỉnh quản lý. Từ năm 2005 - 2010, đầu tư xây dựng và trang bị một số Trung tâm văn hóa khu vực thị xã (khi thị xã mở rộng quy mô và có số dân đô thị loại 3).

Mỗi Trung tâm văn hóa thông tin huyện thành lập 01 đội tuyên truyền vănnghệ, phương thức hoạt động bán chuyên nghiệp. Đến năm 2010, Nhà văn hóa các huyện, thị có máy chiếu phim hiện đại. Thư viện huyện có cơ số sách báo, tài liệu đủ tiêu chuẩn thư viện xếp loại 5 và loại 4. Một số thư việnhuyện được nối mạng khai thác Internet.

Trung tâm văn hóa các huyện Yên Mỹ, Mỹ Hào, Văn Lâm, thị xã Hưng Yên được tăng cường lực lượng, phương tiện để đáp ứng nhu cầu đời sống văn hóa của nhân dân đô thị và công nhân lao động, các doanh nghiệp ngày một phát triển.

3. Cấp xã, phường, thị trấn.

Trong những năm trước mắt. hoạt động kinh tế và sinh hoạt cộng đồng dân cư chủ yếu là ở các làng và khu phố. Bởi vậy phải có các thiết chế văn hóa, điểm vui chơi giải trí tại các làng, khu phố. Những cơ sở xã, phường, thị trấn đã có thiết chế văn hóa vẫn cần được tu bổ và khai thác. Ban văn hóa thông tin xã, phường là cầu nối của các trung tâm văn hóa huyện, thị, chỉ đạo phối hợp tổ chức các hoạt động văn hóa, nếp sống, vui chơi, giải trí của các làng, khu phố.

Từ nay đến năm 2005, trọng tâm đầu tư là các thiết chế văn hóa làng, khu phố từ nguồn xã hội hóa và có sự hỗ trợ của nhà nước đối với các trọng điểm và nơi khác đặc biệt khó khăn.

- Mỗi làng, khu phố xây dựng Nhà văn hóa, Tủ sách, thành lập Đội văn nghệ, các loại hình câu lạc bộ, có những trang bị thiết yếu như: Tăng âm, nhạc cụ, dụng cụ TDTT. Cơ sở vật chất xây dựng mới hoặc tận dụng các đình, chùa…

- Kết hợp với việc dồn thửa đổi ruộng bố trí nơi vui chơi giả trí cho các làng, và quy hoạch diện tích đất dành cho trung tâm văn hóa vui chơi giải trí xã, phường, đảm bảo mỗi xã có một sân vận động, diện tích đất theo quy định của tỉnh. Đến năm 2005 có 40% và năm 2010 có 50-60% các xã, phường có cơ sở văn hóa, điểm vui chơi giải trí cho trẻ em đủ tiêu chuẩn. Mỗi xã, phường thị trấn có 01 đội tuyên truyền văn nghệ, 01 thư viện, nhà truyền thống, hai cụm cổ động.

Đến năm 2005, nhà văn hóa các làng, khu phố đặt mua 2-3 tờ báo và tạp chí. Tủ sách có ít nhất 500 cuốn, với cơ cấu sách hợp lý (sách tìm hiểu pháp luật, khoa học thường thức, tác phẩm văn học nghệ thuật). Đến năm 2010, 100% số xã, phường có Trung tâm văn hóa - thể thao, có nhà văn hóa đa chức năng, xây dựng được thư viện có từ 2.000-000 cuốn sách, báo, tạp chí.

C. Bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa


Từ thực trạng xuống cấp của các di tích lịch sử văn hóa và nguy cơ thất truyền của văn hóa phi vật thể, mục tiêu đề ra của lĩnh vực này như sau:


- Tổ chức kiểm kê khoa học di tích và cổ vật, lập hồ sơ lưu trữ vào đĩa mềm, CD room. Tiếp tục làm hồ sơ đăng ký công nhận xếp hạng quốc gia một số di tích tiêu biểu còn lại, đồng thời tiến hành xếp hạng di tích cấp tỉnh, do Chủ tịch UBND tỉnh quyết định công nhận.


- Giải quyết cơ bản việc chống xuống cấp cho di tích xếp hạng quốc gia. Đầu tư tôn tạo phục hồi một số công trình di tích trọng điểm.


- Tổ chức kiểm kê, sưu tầm nghiên cứu, lưu trữ các di sản văn hóa phi vật thể qua các hình thức ghi hình, ghi âm, in ấn xuất bản.


Thực hiện các dự án: Tập trung triển khai thực hiện các dự án công trình tưởng niệm danh nhân, văn hóa du lịch đã được UBND tỉnh phê duyệt.

1. Quần thể di tích Phố Hiến

Từ nay đến năm 2005, tổng kết dự án trung tu tôn tạo quần thể di tịch lịch sử Phố Hiến của Bộ Văn hóa - Thông tin, tiến hành lập dự án tổng thể văn hóa - Du lịch Phố Hiến. Lập dự án trùng tu tôn tạo giai đoạn 2 và triển khai thi công các công trình: Đền Thiên Hậu, Đông đô quảng hội, Võ Miếu, Chùa Nễ Châu và đền Mây. Tiếp tục hoàn thành các hạng mục còn lại của chùa Chuông. Lập quy hoạch hoàn chỉnh và phục hồi các hạng mục di tích Văn miếu, Phố Hiến cổ.

2. Dự án công viên Hồ Bán Nguyệt

Từ nay đến năm 2005, lập dự án khả thi thực hiện một số hạng mục mang nội dung về lịch sử Phố Hiến như: biểu tượng Phố Hiến, mô hình thương cảng.

Đến 2010, hoàn thành các hạng mục dự án công viên hồ Bán Nguyệt cùng với xây dựng hoàn chỉnh các hạng mục của Bảo tàng tỉnh.

3. Dự án Chử Đồng Tử - Tiên Dung

Từ nay đến 2005, hoàn thành quy hoạch lập dự án khả thi trùng tu đền Đại Hòa, đền Hóa (Dạ Trạch), xây dựng và phục hồi công tình về Triệu Việt Vương và đầm Dạ Trạch. Xây dựng công trình nhà nghỉ, công trình đường giao thông, điện, nước, phục vụ khách tham quan, du lịch.

Đến 2010, hoàn thành tổng thể các hạng mục của dự án, gắn phát triển du lịch văn hóa với du lịch sinh thái trong vùng.

4. Dự án di tích Hải Thượng Lãn Ông

Từ nay đến 2005, xây mới nhà tưởng niệm Hải Thượng Lãn Ông. Tu bổ chống xuống cấp một số di tích có liên quan. Cải tạo phục hồi sông Lư Giang. Có chủ trương thu hút đầu tư và mời các danh y hành nghề y dược học dân tộc, để đến năm 2010, nơi đây có thể trở thành một Trung tâm truyền bá y dược học cổ truyền.

Cùng với 4 dự án trùng tu di tích gắn với việc phát triển văn hóa du lịch nêu trên, triển khai lập dự án bảo tồn cụm di tích Phù Ủng (huyện Ân Thi), di tích Tống Trân Cúc hoa (Phù Cừ). Xúc tiến bảo tồn một số làng sinh thái cổ truyền đặc trưng của đồng bằng Bắc bộ.

Phần thứ ba

CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

1. Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, nâng cao trình độ lãnh đạo và quản lý văn hóa thông tin, văn học nghệ thuật:

- Tiếp tục tuyên truyền các quan điểm của Đảng về văn hóa nhằm nâng cao nhận thức về vai trò của văn hóa, khẳng định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Phát triển văn hóa nhằm mục đích vì con người, bồi dưỡng tâm hồn, nhân cách, trí tuệ con người. Văn hóa có tác động trực tiếp đến sự phát triển kinh tế. Khắc phục quan điểm coi văn hóa đi theo kinh tế, ở một số lĩnh vực văn hóa có thể đi trước nhưng việc xây dựng hành vi đạo đức, nếp sống văn hóa không bị lệ thuộc nhiều vào cơ sở vật chất và điều kiện kinh tế.

- Đối với ngành văn hóa thông tin, tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho cán bộ trong ngành, củng cố các tổ chức Đảng, đoàn thể, thực hiện tốt quy chế dân chủ trong cơ quan.

- Các ngành, đoàn thể, các tổ chức xã hội đều coi trọng công tác tư tưởng văn hóa, phát triển sự nghiệp văn hóa thông tin, xây dựng đời sống văn hóa, đẩy mạnh cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”.

2. Đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ cán bộ

Hết sức coi trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ văn hóa thông tin ở cả ba cấp: Tỉnh, huyện, thị và cơ sở. Tuyển dụng cán bộ chuyên môn có trình độ đại học và có năng khiếu, tài năng hoạt động văn hóa nghệ thuật. Thực hiện tiêu chuẩn hóa cán bộ, khuyến khích cán bộ học tập nâng cao nghiệp vụ.

+Cán bộ văn hóa thông tin cấp tỉnh: Cán bộ công chức có trình độ đại học trở lên chiếm hơn 70% vào năm 2005 và 85% vào năm 2010.

+Cán bộ văn hóa thông tin cấp huyện, thị: Cán bộ công chức có trình độ đại học trở lên chiếm hơn 60% vào năm 2005 và trê 70% vào năm 2010.

+ Đối với xã, phường, thị trấn: 100% cán bộ văn hóa thông tin được đào tạo sơ cấp nghiệp vụ vào năm 2005 và 60% trình độ trung cấp và đại học vào năm 2010.

Mỗi xã, phường bố trí 01 cán bộ chuyên trách văn hóa được hưởng lương từ ngân sách nhà nước và 02 cán bộ văn hóa phụ trách thư viện, quản lý di tích, nếp sống, thông tin cổ động, văn nghệ… hưởng phụ cấp từ nguồn xã hội hóa. Mỗi thôn, khu phố có 01 Ban chủ nhiệm nhà văn hóa, hoạt động tự nguyện hoặc có thù lao từ nguồn xã hội hóa.

3. Tăng cường, xã hội hóa hoạt động văn hóa

Tạo có chế đẩy mạnh hơn nữa công tác xã hội hóa các hoạt động văn hóa. Khuyến khích các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các thành phần kinh tế trong và ngoài tỉnh tham gia các hoạt động văn hóa, phát triển dịch vụ văn hóa. Liên kết phối hợp với các ngành, đoàn thể, kêu gọi sự tài trợ của các tổ chức, doanh nghiệp đối với các hoạt động văn hóa. Trước hết ở các lĩnh vực:

+ Tài trợ các giải thưởng, các hoạt động sáng tác văn học - nghệ thuật, xuất bản, triển lãm.

+ Trùng tu, tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa. Tăng cường huy động nguồn công đức và quản lý quỹ công đức. Đối với một số dự án cần đầu tư lớn, kêu gọi liên doanh khai thác, trước hết là các dịch vụ phục vụ du lịch.

+ Các thành phần kinh tế tham gia phát triển dịch vụ văn hóa như: Mở cửa hàng karaoke, kinh doanh băng, đĩa hình, xuất bản phẩm, dịch vụ Internet, các dịch vụ mỹ thuật, nhiếp ảnh, đầu tư cơ sở vật chất mở các loại hình dịch vụ câu lạc bộ văn hóa - văn nghệ - thể dục thể thao, lấy thu bù chi.

+ Ở cơ sở, chủ yếu động viên nguồn lực trong nhân dân, xây dựng các thiết chế văn hóa, như nhà văn hóa, tủ sách, đội văn nghệ, tổ chức câu lạc bộ…

4. Coi trọng công tác quản lý nhà nước về văn hóa thông tin.

- Tăng cường tuyên truyền phổ biến, chỉ đạo thực hiện nghiêm các luật, những quy định của nhà nước đối với hoạt động văn hóa thông tin.

- Thực hiện thống nhất việc quản lý Nhà nước về văn hóa trên địa bàn, phân cấp quản lý cho huyện, thị và cơ sở. Huấn luyện và bồi dưỡng kiến thức quản lý văn hóa thông tin cho cán bộ chính quyền cơ sở, đề cao trách nhiệm quản lý văn hóa - xã hội trên địa bàn.

- Vừa tăng cường quản lý nhà nướcbằng pháp luật, vừa coi trọng công tác thi đua khen thưởng.

- Thường xuyên tổ chức thanh tra, kiểm tra. Kết hợp giữa quản lý văn hóa với đấu tranh phong chống tệ nạn xã hội. Ngăn ngừa có hiệu quả những văn hóa phẩm ngoài luồng, độc hại.

5. Tăng cường, nguồn lực tài chính đầu tư phát triển sựnghiệp văn hóa thông tin.

Nhà nước đầu tư tài chính để xây dựng các thiết chế văn hóa ở tỉnh, huyện. Phấn đấu hai năm xây dựng được một thiết chế văn hóa thông tin ở tỉnh, mỗi năm xây dựng một dự án và hai năm hoàn thành một thiết chế văn hóa huyện, thị xã.

Huy động nguồn tài chính xã hội hóa xây dựng các thiết chế văn hóa ở cơ sở, chống xuống cấp, tôn tạo di tích, liên kết, liên doanh tham gia phát triển dịch vụ văn hóa, các dự án văn hóa - du lịch…

- Hàng năm, chi ngân sách sự nghiệp văn hóa bảo đảm như chỉ tiêu hướng dẫn của Trung ương. Mức tăng đầu tư ngân sách cho văn hóa tương ứng với mức tăng trưởng kinh tế.

- Nhà nước đầu tư hỗ trợ trang thiết bị cho nhà văn hóa, đội văn nghệ tuyên truyền của xã, phường, thị trấn. Đầu tư hỗ trợ những đơn vị điển hình để xây dựng mô hình kiểu mẫu về tổ chức, văn hóa như đội văn nghệ, tủ sách, câu lạc bộ…

6. Quan tâm giữ gìn phát huy đặc thù văn hóa của địa phương

Trong chỉ đạo, phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội chú ý bảo tồn và phát huy đặc thù riêng của văn hóa Hưng Yên, đặc trưng văn hóa châu thổ sông Hồng. Quan tâm giữ gìn cảnh quan môi trường văn hóa, mang nét riêng của nông thôn đồng bằng sông Hồng (như giữ cảnh quan một số làng cổ với các thành tố: Cây đa, giếng nước, sân đình…sinh hoạt lễ hội, hát trống quân, ca trù, các trò chơi dân gian)…

Có chính sách địa phương trong việc khen thưởng, khuyến khích tài năng, hoạt động văn hóa văn nghệ, khuyến khích các cá nhân, tổ chức kinh tế - xã hội… tham gia hoạt động sáng tạo văn hóa.

Phần thứ tư

TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Các cấp chính quyền, các ngành, đoàn thể nhân dân tổ chức tốt đợt phổ biến, quán triệt Nghị quyết của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, đề án của UBND tỉnh về phát triển sự nghiệp văn hóa thông tin đến 2005 và định hướng đến năm 2010, tập trung vào các lĩnh vực xây dựng đời sống văn hóa, thiết chế văn hóa, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống. Căn cứ mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp cơ bản nêu trên để xây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể, tổ chức thực hiện.

2. Sở Văn hóa - Thông tin chủ trì xây dựng chương trình, kế hoạch hoạt động tổ chức thực hiện trong toàn ngành. Phối hợp với các ngành, đoàn thể, đơn vị có liên quan tổ chức triển khai thực hiện các nội dung của đề án.

3. Các ngành Tài chính, kế hoạch: căn cứ vào đề án của UBND tỉnh bố trí kế hoạch, ngân sách đầu tư hàng năm để xây dựng các thiết chế và tổ chức các hoạt động văn hóa thông tin.

4. Ban tổ chức chính quyền tỉnh: đề xuất tổ chức bộ máy, biên chế, cơ chế chính sách, các tiêu chuẩn chức danh, quy chế phối hợp tuyển dụng, bổ nhiệm, đề bạt cán bộ thuộc ngành văn hóa thông tin.

5. Các địa phương phối hợp với Ủy ban MTTQ các cấp, các đoàn thể quần chúng tổ chức phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, phối hợp với các lực lượng chính trì xã hội tham gia xây dựng thiết chế văn hóa, tổ chức hoạt động văn hóa, xây dựng gia đình văn hóa, khu dân cứ văn hóa, cơ quan, đơn vị văn hóa.

Ngành Thể dục - Thể thao phối hợp với ngành văn hóa thông tin kết hợp chỉ đạo, hướng dẫn xây dựng các thiết chế văn hóa, thể dục thể thao ở cơ sở.

Các cơ quan thông tin đại chúng với chức năng tuyên truyền, chuyển tải các tác phẩm văn hóa – nghệ thuật, cần coi trọng hơn nữa tuyên truyền văn nghệ, biểu dương người tốt, việc tốt, các điển hình tiên tiến hoạt động văn hóa thông tin.


Tổng quan văn bản

Số ký hiệu50/2002/QĐ-UB
Ngày ban hành21/10/2002
Loại văn bảnQuyết định
Ngày có hiệu lực21/10/2002
Nguồn thu thậpCơ sở dữ liệu
Ngày đăng công báo---
Cơ quan ban hành / Người kýUBND tỉnh Hưng Yên / Nguyễn Đình Phách
Phạm viHưng Yên
Trích yếuVề việc ban hành Đề án phát triển sự ngiệp Văn hóa - Thông tin đến năm 2005 và định hướng đến năm 2010
Tình trạng hiệu lựcCòn hiệu lực

Chưa có thông tin lược đồ

Văn bản này hiện chưa được cập nhật dữ liệu về lược đồ liên quan.