|
UBND TỈNH THANH HÓA Số: 343/2002/QĐ-UB |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------------------- tỉnh Thanh Hóa, ngày 28 tháng 01 năm 2002 |
QUYẾT ĐỊNH
Về việc phê duyệt đề án Quy hoạch Vật liệu xây dựng
tỉnh Thanh Hoá đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020
________________
UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND ngày 21 tháng 6 năm 1994;
Căn cứ Nghị định số 52/1999/NĐ-CP ngày 8 tháng 7 năm 1999 của Chính phủ về việc ban hành Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng; Nghị định số 12/2000/NĐ-CP ngày 5 tháng 5 năm 2000 của Chính phủ về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Quy chế đầu tư và xây dựng ban hành kèm theo Nghị định số 52/1999/NĐ-CP.
Xét đề nghị của Giám đốc Sở Xây dựng Thanh Hoá tại Tờ trình số 391/XD-KTQH ngày 16 tháng 10 năm 2001,
QUYẾT ĐỊNH
Điều 1: Phê duyệt đề án Quy hoạch Vật liệu xây dựng tỉnh Thanh Hoá đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 với những nội dung chủ yếu sau đây:
1- Mục tiêu phát triển sản xuất vật liệu xây dựng.
Phát triển sản xuất vật liệu xây dựng (VLXD) nhằm đáp ứng nhu cầu của tỉnh về VLXD đồng thời phát huy lợi thế về nguồn nguyên liệu sản xuất VLXD, về tiềm năng lao động và vị trí địa lý thuận lợi. Đầu tư phát triển VLXD trên địa bàn tỉnh cần phấn đấu để từng bước thay thế nhập khẩu, tiến tới xuất khẩu ra ngoài tỉnh và ngoài nước. Phát triển sản xuất VLXD nhằm từng bước thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá ngành công nghiệp VLXD của tỉnh; góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ; tăng nguồn thu ngân sách cho tỉnh, tạo tích luỹ để tái sản xuất mở rộng của ngành; giải quyết việc làm cho người lao động.
2- Quan điểm phát triển sản xuất vật liệu xây dựng.
- Phát triển sản xuất VLXD trên cơ sở nhu cầu thị trường, phát huy nội lực của ngành và của tỉnh, khai thác tiềm năng tài nguyên, lao động và nguồn lực đầu tư của các thành phần kinh tế. Xem nguồn nội lực là nền tảng quyết định cho phát triển sản xuất VLXD; đồng thời có chính sách phù hợp thu hút các nguồn lực quan trọng khác nhằm từng bước đạt trình độ công nghệ sản xuất của cả nước và các nước trong khu vực.
- Quy mô đầu tư nói chung đối với các chủng loại VLXD là vừa và nhỏ, bố trí gần các vùng nguyên liệu và các vùng tiêu thụ. Đối với các sản phẩm VLXD có khả năng hướng tới thị trường trong nước và xuất khẩu cần đầu tư quy mô lớn, công nghệ hiện đại để tăng sức cạnh tranh trên thị trường.
- Chú trọng phát triển các chủng loại VLXD mới có chất lượng cao phục vụ cho xây dựng đô thị, các khu thương mại và du lịch..., đồng thời quan tâm đến việc phát triển các chủng loại VLXD rẻ tiền, trước mắt là các loại vật liệu xây, lợp cho xây dựng nhà ở cũng như vật liệu cho xây dựng đường sá, kênh mương thuỷ lợi... ở các khu vực có khả năng chi trả hạn chế như các huyện miền núi, nhằm góp phần giải quyết vấn đề ở và xây dựng hạ tầng cơ sở cho phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới ngày càng văn minh, hiện đại.
- Phát triển sản xuất VLXD phải đảm bảo bền vững, gắn hiệu quả kinh tế với hiệu quả xã hội, bảo vệ tốt nguồn tài nguyên thiên nhiên, môi trường sinh thái, di tích văn hoá, lịch sử, cảnh quan và đảm bảo an ninh quốc phòng.
- Quy hoạch VLXD của tỉnh phải gắn liền với quy hoạch đô thị, quy hoạch kết cấu hạ tầng của tỉnh và phù hợp với quy hoạch VLXD vùng Bắc Trung Bộ và phù hợp với quy hoạch tổng thể ngành công nghiệp VLXD của cả nước, để đảm bảo tính khoa học và khả thi cao.
3- Phương án quy hoạch phát triển sản xuất vật liệu xây dựng trên địa bàn Thanh Hoá đến năm 2010.
- Về xi măng:Giai đoạn 2001-2005, đầu tư chuyển đổi công nghệ sản xuất từ phương pháp ướt sang phương pháp khô cho 2 dây chuyền lò nung số 1 và số 2 Nhà máy xi măng Bỉm Sơn để đưa năng lực sản xuất của nhà máy lên 2,4 triệu tấn/năm và phát huy hết năng lực sản xuất của nhà máy xi măng Nghi Sơn 2,27 triệu tấn/năm. Giai đoạn 2006-2010, đầu tư mở rộng nâng công suất Nhà máy xi măng Nghi Sơn lên gấp hai lần để có năng lực sản xuất 4,54 triệu tấn/năm. Đến năm 2005 năng lực sản xuất xi măng toàn tỉnh đạt 4,67 triệu tấn và năm 2010 đạt 6,94 triệu tấn. Tiếp tục nghiên cứu thị trường, nguồn tài nguyên trong tỉnh để xây dựng thêm 1 Nhà máy sản xuất xi măng công suất 1,2 đến 2,4 triệu tấn năm vào thời điểm thích hợp.
- Về đá xây dựng:Đầu tư mở thêm điểm khai thác mới tại các khu vực: Núi Vức, Hà Tân, Núi Gáo với công suất từ 200 ÷ 400 ngàn m3/năm để cung ứng cho xây dựng các đô thị, giao thông và các khu công nghiệp trong giai đoạn 2001-2005. Đến giai đoạn 2006 - 2010 tiếp tục mở rộng nâng công suất lên gấp đôi và mở thêm các điểm khai thác mới tại các khu vực: Núi Chẹt, Yên Thái, công suất 200 ngàn m3/năm. Đồng thời, tổ chức sắp xếp lại sản xuất khu vực khai đá ngoài quốc doanh ổn định sản lượng hàng năm 500 ngàn m3. Phấn đấu đến năm 2005 toàn tỉnh có sản lượng đá xây dựng khoảng 1,2 triệu m3và 2010 khoảng 1,6 triệu m3đạt tiêu chuẩn để đáp ứng nhu cầu xây dựng trong tỉnh.
- Về cát xây dựng:Đầu tư mở rộng nâng công suất khai thác cát. Đến năm 2005, toàn tỉnh có khả năng khai thác 1,2 triệu m3và năm 2010 là 2 triệu m3cát vàng đủ cung ứng cho nhu cầu xây dựng ở tỉnh và một phần cung ứng cho thị trường ngoài tỉnh.
- Về vật liệu xây:Từng bước hạn chế, tiến tới chấm dứt hoạt động đối với các cơ sở sản xuất gạch ngói nung đã hết nguyên liệu, gồm: Cẩm Trướng, Mai Chữ, Tự Lực, Quảng Bình. Phát huy đủ và vượt công suất thiết kế đối với các cơ sở sản xuất tuy nen hiện có gồm: Bỉm Sơn (Viglacera), Đông Hương, Đông Văn, Trường Lâm, Vĩnh Hoà. Từng bước chuyển đổi sản xuất từ lò đứng sang lò tuy nen nhỏ và kết hợp nâng công suất cho các cơ sở: Yên Thái, Hà Bắc, Quảng Yên, Bỉm Sơn, Dân Lực. Đầu tư xây dựng mới các dây chuyền sản xuất gạch không nung từ đất đồi tại Triệu Sơn, Thọ Xuân và từ nguồn xi măng, đá mạt, cát vàng tại Núi Vức, Hà Tân, Núi Gáo, Lam Sơn, Thạch Thành, Ngọc Lạc với công suất từ 7÷12 triệu viên/năm cho mỗi cơ sở. Phấn đấu đến năm 2005 có sản lượng vật liệu xây các loại là 295 triệu viên và 2010 là 340 triệu viên qui tiêu chuẩn.
- Về vật liệu lợp:Ổn định sản lượng ngói nung khoảng 360 ngàn m2/năm sản xuất kết hợp trong các cơ sở gạch và 1 triệu m2/năm tấm lợp fibrô xi măng sản xuất tại Bỉm Sơn. Đầu tư xây dựng một cơ sở tấm lợp kim loại công suất 1 triệu m2/năm tại Khu công nghiệp Lễ Môn trong giai đoạn 2006 - 2010.
- Về gạch ốp lát:Trên cơ sở Nhà máy gạch ceramic Thanh Hoá tại Khu công nghiệp Lễ Môn công suất 1 triệu m2/năm (giai đoạn 2001-2005), nâng lên 2 triệu m2/năm (giai đoạn 2006-2010); tiếp tục đầu tư phát triển sản xuất các sản phẩm gốm sứ xây dựng khác, đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường.
- Về vật liệu chịu lửa:Thu hút đầu tư xây dựng tại Lang Chánh một sơ sở sản xuất Sa-mốt bán thành phẩm, công suất 10 ngàn tấn/năm trong giai đoạn 2001-2005 sau đó nâng lên 20 ngàn tấn/năm trong giai đoạn 2006-2010; đồng thời nghiên cứu sản xuất gạch sa mốt với qui mô nhỏ khoảng 200 tấn/năm để cung ứng cho nhu cầu xây dựng các lò gạch, lò luyện thép trong tỉnh và các tỉnh lân cận.
- Về đá ốp lát:Giai đoạn 2001-2005: Ổn định sản xuất cho các cơ sở gia công đá ốp lát hiện có (kể cả khu vực quốc doanh và ngoài quốc doanh); di chuyển XN đá ốp lát xuất khẩu Cầu Hạc đến khu Công nghiệp vật liệu Vức. Đầu tư công nghệ khai thác đá khối tại các mỏ đá ở các huyện Lang Chánh, Hà Trung và Ngọc Lạc, công suất 1.000 m3/năm để cung cấp nguyên liệu cho các cơ sở gia công đá ốp lát trong tỉnh và xuất khẩu. Giai đoạn 2006-2010: Tiếp tục mở rộng nâng công suất của cơ sở khai thác đá khối và gia công đá ốp lát hiện có, phấn đấu đạt sản lượng 2.000 m3đá khối và 500 ngàn m2đá ốp lát.
- Về khai thác phụ gia xi măng:Ổn định sản xuất cho cơ sở khai thác hiện có để có sản lượng 500 ngàn tấn bazan và 50 ngàn tấn quặng sắt (năm 2005); 800 ngàn tấn bazan và 100 ngàn tấn quặng sắt (năm 2010) để cung cấp cho nhu cầu sản xuất xi măng ở trong tỉnh và trong vùng cũng như các nhu cầu sử dụng khác.
- Về chế biến gỗ:Đầu tư xây dựng một cơ sở gỗ ván ép công suất 20.000 m3/năm sử dụng các loại gỗ rừng trồng, gỗ phế liệu trong khai thác, tre, nứa, luồng và các phế thải trong chế biến nông lâm nghiệp đặc biệt là bã mía của các nhà máy đường làm nguyên liệu.
- Về vật liệu nhựa:Đầu tư xây dựng một cơ sở sản xuất các mặt hàng nhựa xây dựng thông dụng công suất 1.000 tấn/năm trong giai đoạn 2001-2005 và nâng lên 2.000 tấn/năm trong giai đoạn 2006-2010 và một cơ sở cửa nhựa công suất 50 ngàn đơn vị cửa/năm trong giai đoạn 2006 -2010.
- Về các chủng loại VLXD khác:Tiếp tục sản xuất chất kết dính cấp thấp từ bazan, vôi bột, thạch cao và tro trấu để cung cấp cho nhu cầu xây dựng ở khu vực nông thôn và sản xuất vôi xây dựng ở các khu vực: Hà Tân, Định Thành, Vức, Yên Thái, Trường Lâm kết hợp với sản xuất bột nhẹ để cung cấp cho sản xuất nông nghiệp, cho xây dựng, cho công nghiệp... Đầu tư mở rộng nâng công suất của cơ sở sản xuất ván sàn tre và đẩy mạnh công tác tiếp thị để xuất khẩu sản phẩm ra nước ngoài.
- Về VLXD cho nông thôn miền núi:Đầu tư sản xuất gạch không nung qui mô 3 ÷ 5 triệu viên/năm, khai thác cát vàng từ 5 ÷ 10 ngàn tấn/năm ở khắp các huyện miền núi và mở thêm một số điểm khai thác đá xây dựng với qui mô từ 15 ÷ 20 ngàn m3/năm, như: Dốc Ngán (Ngọc Lạc), Đồng Hang (Như Thanh) và huyện lỵ Bá Thước để cung ứng cho các huyện với một cự ly thích hợp; đồng thời đẩy mạnh việc khai thác và chế biến khoáng sản làm VLXD ở các mỏ trên địa bàn các huyện.
4- Định hướng phát triển công nghiệp vật liệu xây dựng tỉnh Thanh Hoá đến năm 2020:
Tiếp tục đổi mới công nghệ sản xuất, phát huy năng lực sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo các quy định về môi sinh, môi trường. Đầu tư sản xuất các chủng loại VLXD mới như: các cốt liệu nhẹ cho bê tông xây dựng ở nền đất yếu, các sản phẩm VLXD từ sản phẩm và chế phẩm dầu mỏ, các kết cấu thép khẩu độ lớn v.v... Phát triển sản xuất theo hướng tập trung trong các khu công nghiệp với mức độ chuyên môn hoá cao.
5- Các giải pháp lớn để thực hiện mục tiêu và định hướng quy hoạch.
- Để tạo nguồn vốn cho phát triển sản xuất VLXD cần huy động từ nhiều nguồn khác nhau; đồng thời có biện pháp tích cực thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài; cần đẩy nhanh tốc độ xây dựng cơ sở hạ tầng theo quy hoạch của các ngành, trong đó đặc biệt chú ý tới giao thông là yếu tố quan trọng hàng đầu hỗ trợ cho sản xuất VLXD phát triển.
- Có chính sách thị trường phù hợp để giữ vững và mở rộng thị trường VLXD trong tỉnh và ngoài tỉnh. Nghiên cứu các chế độ chính sách tạo mặt bằng pháp lý chung cho các doanh nghiệp tham gia sản xuất VLXD; nghiên cứu các biện pháp kích cầu VLXD ở khu vực nông thôn, có chính sách bảo hộ hợp lý hàng VLXD trên bước đường đi tới hội nhập khu vực và thế giới, tăng cường công tác chống buôn lậu, hạn chế nhập khẩu, tiến tới xuất khẩu sản phẩm VLXD.
- Tăng cường công tác đào tạo cán bộ kỹ thuật, công nhân lành nghề và đẩy mạnh các hoạt động khoa học công nghệ trong lĩnh vực VLXD để đáp ứng nhu cầu trước mắt và tạo tiền đề cho sự phát triển trong tương lai. Đẩy mạnh công tác đào tạo cho tất cả các đối tượng: cán bộ quản lý, chuyên gia kỹ thuật và công nhân kỹ thuật trên cơ sở kết hợp cả ba loại hình: đào tạo mới, đào tạo lại và đào tạo bổ sung nâng cao kiến thức. Đẩy mạnh việc nghiên cứu các chủng loại VLXD mới thay thế sản phẩm và nguyên liệu nhập ngoại. Tăng cường năng lực phân tích kiểm nghiệm, năng lực tư vấn đầu tư xây dựng, tư vấn quản lý điều hành và tư vấn chuyển giao công nghệ mở rộng thị trường.
Thống nhất việc quản lý Nhà nước về sản xuất và kinh doanh VLXD trên địa bàn. Đổi mới công tác quản lý Nhà nước theo ngành, tập trung vào quản lý chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, quản lý cơ cấu sản phẩm, chất lượng sản phẩm, công nghệ sản xuất, tài nguyên, môi trường theo đúng luật định của Nhà nước.
Điều 2: Giao Sở Xây dựng cụ thể hoá đề án này thành chương trình, bước đi phù hợp; lập kế hoạch phát triển VLXD thành các dự án cụ thể, trình UBND tỉnh phê duyệt; duy trì công tác điều tra cơ bản về lĩnh vực VLXD, tiến hành bổ sung, điều chỉnh quy hoạch theo kế hoạch 3 ÷ 5 năm cho phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã - hội của tỉnh.
Điều 3: Giao Sở Công nghiệp chủ trì phối hợp với Sở Xây dựng lập quy hoạch khai thác các mỏ đá cho sản xuất đá ốp lát, đá mỹ nghệ phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Chú ý bảo vệ, giữ gìn cảnh quan thiên nhiên ở các địa bàn; phục vụ du lịch sinh thái và bảo vệ môi trường. Đây là quan điểm chỉ đạo quan trọng trong việc lập quy hoạch khai thác các mỏ đá.
Điều 4: Quyết định có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày ký.
Chánh Văn phòng UBND tỉnh; Giám đốc Sở Xây dựng; Giám đốc các Sở, Thủ trưởng các Ban, ngành có liên quan; Chủ tịch UBND các huyện, thị xã, thành phố chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.