|
ỦY
BAN NHÂN DÂN |
CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 229/2006/QĐ-UBND |
Phan Rang-Tháp Chàm, ngày 11 tháng 9 năm 2006 |
QUYẾT ĐỊNH
VỀ VIỆC BAN HÀNH QUY ĐỊNH CHẾ ĐỘ THU, NỘP, QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG PHÍ BẾN BÃI, ĐƯỜNG NỘI BỘ, MẶT BẰNG, MẶT NƯỚC TẠI CÁC CẢNG CÁ, BẾN CÁ TỈNH NINH THUẬN
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN
Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ngày 26 tháng 11 năm 2003; Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ngày 03 tháng 12 năm 2004; Căn cứ Pháp lệnh Phí và lệ phí số 38/2001/PL-UBTVQH10 ngày 28 tháng 8 năm 2001 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Căn cứ Nghị định số 57/2002/NĐ-CP ngày 03 tháng 6 năm 2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Phí và lệ phí; Căn cứ Thông tư số 63/2002/TT-BTC ngày 24 tháng 7 năm 2002 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện các quy định pháp luật về phí và lệ phí; Căn cứ Thông tư số 71/2003/TT-BTC ngày 30 tháng 7 năm 2003 của Bộ Tài chính hướng dẫn về phí thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Căn cứ Nghị quyết số 12/2006/NQ-HĐND ngày 01 tháng 8 năm 2006 của Hội đồng nhân dân tỉnh Ninh Thuận khóa VIII kỳ họp thứ 7 về việc ban hành quy định chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí bến bãi, đường nội bộ, mặt bằng, mặt nước tại các cảng cá, bến cá tỉnh Ninh Thuận; Căn cứ Văn bản số 151/HĐND-TH ngày 01 tháng 9 năm 2006 của Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh về việc ý kiến thời điểm thi hành Nghị quyết số 12/2006/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh khoá VIII; Xét đề nghị của Giám đốc Sở Thủy sản tại Tờ trình số 376/TTr-STS ngày 08 tháng 8 năm 2006,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Quy định chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí bến bãi, đường nội bộ, mặt bằng, mặt nước tại các cảng cá, bến cá (gọi tắt là phí cảng cá, bến cá) tỉnh Ninh Thuận.
Điều 2. Đối với các trường hợp đã nộp phí sử dụng mặt bằng, mặt nước cả năm 2006, không áp dụng hình thức truy thu hoặc thoái thu khi quyết định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/8/2006.
Điều 3. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/8/2006. Những quy định trước đây trái với nội dung quy định ban hành kèm theo Quyết định này đều bãi bỏ.
Ông Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh, Giám đốc Sở Tài chính, Giám đốc Sở Thủy sản, Cục trưởng Cục Thuế, Giám đốc Ban quản lý Khai thác các công trình thủy sản; Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các huyện, thị xã ven biển và Thủ trưởng các Sở, ban, ngành có liên quan căn cứ Quyết định thi hành./.
TM. ỦY BAN NHÂN DÂN CHỦ TỊCH Hoàng Thị Út Lan |
1. Đối tượng nộp phí
a) Các tổ chức cá nhân trong và ngoài tỉnh có các loại phương tiện gồm: tàu cá khai thác hải sản, tàu thuyền vận tải hàng hoá và các phương tiện vận tải khác khi vào khu vực cảng cá, bến cá để làm dịch vụ, kinh doanh mua bán, vận chuyển hành khách, hàng hóa đều phải nộp phí theo quy định này;
b) Các tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế có sử dụng mặt bằng cảng, bến bãi, mặt nước trong khu vực cảng, bến cá để hoạt động sản xuất kinh doanh đều phải nộp phí theo quy định này.
2. Đối tượng tính phí
Điều 4. Đối tượng không phải nộp phí
1. Các đơn vị làm nhiệm vụ đặc biệt như: Biên phòng, Quân đội, Công an, cơ quan bảo vệ nguồn lợi thủy sản có tàu thuyền vào bến cập cảng không phải nộp phí nhưng phải đăng ký trước để đơn vị quản lý cảng cá, bến cá bố trí vị trí neo đậu.
2. Các tổ chức, cá nhân có tàu thuyền vào khu vực cảng, bến cá để neo đậu trong thời gian có bão, lũ không phải nộp phí neo đậu nhưng phải chấp hành đúng quy định của đơn vị quản lý cảng, bến cá về vị trí và thời gian neo đậu.
Điều 5. Mức thu phí
1. Mức thu phí bến, bãi, đường nội bộ, mặt bằng, mặt nước theo bảng quy định đính kèm.
Điều 6. Tổ chức thu, nộp, quản lý và sử dụng phí
1. Đơn vị quản lý cảng cá, bến cá tổ chức lực lượng thu, bố trí địa điểm thu phí thích hợp để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh và dịch vụ phục vụ nghề cá trong khu vực cảng, bến cá. Khi thu phí phải:
a) Thông báo và niêm yết công khai mức thu phí tại điểm thu ở vị trí thuận tiện để các đối tượng nộp phí biết;
b) Phải đăng ký tại cơ quan Thuế trực tiếp quản lý để được cấp biên lai thu phí và quản lý, sử dụng theo đúng quy định của Bộ Tài chính về phát hành, quản lý, sử dụng và thanh quyết toán biên lai thu phí;
c) Khi thu phí phải cấp cho người nộp tiền biên lai thu phí; phải thực hiện đăng ký, kê khai, thu, nộp và quyết toán tiền thu phí theo quy định tại Thông tư số 63/2002/TT-BTC ngày 24/7/2002 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện các quy định pháp luật về phí và lệ phí.
2. Tổ chức thực hiện thu phí được trích để lại đơn vị 90% trên tổng số tiền thu phí hàng năm và được chi cho các nội dung:
Điều 7. Miễn, giảm phí
Điều 8. Quy định về sử dụng mặt bằng, bến, mặt nước
1. Thời gian đăng ký sử dụng mặt bằng, bến, mặt nước của các thành phần kinh tế dưới 20 năm (hai mươi năm) do đơn vị quản lý cảng cá, bến cá hợp đồng cho sử dụng theo quy hoạch đã được duyệt; từ 20 năm (hai mươi năm) trở lên phải được sự đồng ý bằng văn bản của Ủy ban nhân dân tỉnh.
2. Trong trường hợp tiền phí sử dụng mặt bằng được nộp từng năm thì mỗi năm nộp hai lần, lần đầu nộp trước ngày 01/4, lần sau nộp trước ngày 01/10 hàng năm. Trường hợp thời gian sử dụng mặt bằng dưới 01 năm (một năm) thì nộp 01 lần (một lần) vào thời điểm hợp đồng được ký kết.
3. Việc xây dựng các cơ sở sơ chế biến, dịch vụ hậu cần trên cảng cá, bến cá phải thực hiện đúng quy định.
4. Khuyến khích ưu đãi nộp phí trước thời hạn: giảm phí sử dụng mặt bằng và phí tàu cá trong tỉnh neo đậu ổn định thường xuyên 10% khi nộp đủ một lần tiền phí cả năm ngay trong tháng đầu tiên của năm và giảm 5% khi nộp đủ một lần tiền phí cả năm trong sáu tháng đầu năm đối với đối tượng nộp phí không còn nợ phí của các năm trước.
Điều 9. Các quy định về thu phí hưởng lợi mặt nước
Điều 10. Quy định khác
1. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân hoạt động trong khu vực cảng cá, bến cá phải đảm bảo giữ gìn vệ sinh môi trường, an ninh trật tự, bảo vệ công trình ở khu vực cảng cá, bến cá; đồng thời chấp hành đúng nội quy của đơn vị quản lý cảng cá, bến cá.
2. Tàu thuyền mỗi lần cập cảng, bến cá tối đa không quá 3 (ba) giờ, tính từ lúc cập bến, xuất và nhập xong sản phẩm hàng hoá. Nếu đột xuất muốn lưu lại bến cập tàu phải được sự đồng ý của đơn vị quản lý cảng cá, bến cá.
3. Đơn vị quản lý cảng cá, bến cá tổ chức sắp xếp, bảo vệ an ninh trật tự, vệ sinh môi trường, ... tạo điều kiện thuận lợi cho các đối tượng sản xuất kinh doanh hoạt động trong khu vực cảng cá, bến cá.
4. Những tổ chức, cá nhân vào cảng cá, bến cá hoạt động nhưng không chịu nộp phí, không thực hiện tốt các quy định thì đơn vị quản lý cảng cá, bến cá có quyền từ chối hoạt động và đề nghị các cơ quan chức năng xử lý theo đúng pháp luật hiện hành.
5. Đối với tàu thuyền nước ngoài khi vào khu vực cảng cá, bến cá phải chấp hành các quy định của pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và phải thông báo, đăng ký trước để đơn vị quản lý cảng cá, bến cá đề nghị với các cơ quan chức năng cho phép về mục đích, thời gian neo đậu và thủ tục tiếp nhận.
6. Khi giá cả thị trường tăng, giảm 15% trở lên so với quy định này thì Ban quản lý Khai thác các công trình thủy sản lập báo về Sở Thủy sản để phối hợp với Sở Tài chính, trình Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét, quyết định điều chỉnh, bổ sung.
Điều 11. Giải quyết khiếu nại, xử lý vi phạm và khen thưởng
1. Việc giải quyết khiếu nại, xử lý vi phạm và khen thưởng trong công tác thu phí tại các cảng cá, bến cá được áp dụng theo quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo và Thông tư số 63/2002/TT-BTC ngày 24/7/2002 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện các quy định pháp luật về phí và lệ phí.
2. Những tổ chức, cá nhân cố tình chây ỳ không nộp phí thì ngoài việc xử lý phải nộp đủ số phí, còn tùy theo tính chất và mức độ vi phạm có thể bị xử lý hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Đơn vị quản lý cảng cá, bến cá chịu trách nhiệm lập hồ sơ kiến nghị xử lý, trình cấp có thẩm quyền xem xét, giải quyết.
Chương III
Điều 12. Sở Tài chính, Cục Thuế tỉnh, Sở Thủy sản có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra việc thu, nộp, quản lý và sử dụng phí tại các cảng cá, bến cá trong tỉnh. Ban quản lý Khai thác các công trình thủy sản có trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo các đơn vị quản lý cảng, bến cá trực thuộc phối hợp với các cơ quan chức năng liên quan khác, Ủy ban nhân dân huyện, thị xã và xã, phường, thị trấn trong khu vực thực hiện tốt quy định này.
Điều 13. Trong quá trình thực hiện nếu có những vướng mắc phát sinh, Ban quản lý Khai thác các công trình thủy sản phải báo cáo kịp thời cho Giám đốc Sở Thủy sản để phối hợp với Sở Tài chính, Cục Thuế tỉnh và các ngành có liên quan xem xét, trình Ủy ban nhân dân tỉnh sửa đổi, bổ sung cho phù hợp./.