|
UBND TỈNH THANH HÓA Số: 1705/1999/QĐ-UB |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------------------- tỉnh Thanh Hóa, ngày 26 tháng 08 năm 1999 |
QUYẾT ĐỊNH CỦA UBND TỈNH THANH HOÁ
Về việc điều chỉnh đối tượng, giá biểu thu một phần viện phí
______________________
UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Căn cứ Luật tổ chức HĐND và UBND.
- Căn cứ Nghị định số: 95/CP ngày 27/08/1994 và Nghị định số 33/CP ngày 23/05/1995 của Chính phủ về việc thu một phần viên phí.
- Căn cứ các Thông tư hướng dẫn số: 14/TT – UB ngày 30/09/1995 của Liên bộ: Y tế - Tài chính - LĐXH - Ban vật giá Chính phủ; Thông tư 05/1999/TT-LB ngày 29/01/1999 của Liên bộ LĐTBXH - Bộ Y tế - Bộ tài chính về việc thực hiện việc khám chữa bệnh được miễn nộp một phần viện phí đối với người thuộc diện quá nghèo.
- Căn cứ vào Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh Thanh Hóa kỳ họp thứ 12 khoá 13 thông qua ngày15/07/1999.
- Xét đề nghị của Sở Y tế Thanh Hoá tại tờ trình số 400 YT - TC ngày 12/07/1999.
QUYẾT ĐỊNH
Điều I: Các cơ sở khám, chữa bệnh trong hệ thống y tế Nhà nước thuộc Sở Y tế quản lý được thu một phần viện phí theo Nghị định số 95/CP ngày 27/08/1994, Nghị định số 33/CP ngày 23/05/1995 của Chính phủ và Thông tư số 14/TT- LB ngày 30/09/1995 của Liên Bộ: Y tế- Tài chính - LĐTBXH - Ban vật giá Chính phủ như sau:
1. Đối tượng nộp một phần viện phí:
1.1 Người không có thẻ bảo hiểm y tế (BHYT), người không thuộc đối tượng được miễn một phần viện phí.
1.2 Người có thẻ BHYT nhưng muốn khám, chữa bệnh theo yêu cầu riêng.
1.3 Người thuộc diện đối tượng miễn nộp một phần viện phí nhưng muốn khám, chữa bệnh theo yêu cầu riêng.
1.4. Các đối tượng phải khám và điều trị do các hành động tiêu cực gây ra (kể cả đối tượng thuộc diện được miễn nộp một phần viện phí) như tự tử, uống rượu say, gây gổ đánh nhau, bị tai nạn giao thông (do bản thân vi phạm luật lệ giao thông hoặc do người khác gây ra)... đều phải nộp một phần viện phí.
2. Đối tượng được miễn nộp một phần viện phí thực hiện theo Thông tư 14/TT - LB ngày 30/09/1995 gồm:
2.1 Trẻ em dưới 6 tuổi.
2.2 Người bị bệnh tâm thần phân liệt, động kinh, bệnh phong, bệnh lao phổi.
2.3 Người bệnh ở các xã được Uỷ ban dân tộc và miền núi công nhận là xã vùng cao.
2.4 Đồng bào đi khai hoang, xây dựng vùng kinh tế mới trong thời gian 3 năm kể từ khi đến.
2.5. Người tàn tật, trẻ mồ côi, người già yếu không nơi nương tựa.
Các hộ quá nghèo được thực hiện theo Thông tư số Thông tư 05/1999/TT-LB ngày 29/01/1999 của Liên bộ LĐTBXH - Y tế - Tài chính để mua thẻ BHYT cho tất cả hộ đói và 1/3 số hộ thuộc diện nghèo nhất kể từ năm 2000 trở đi.
Trong lúc chưa thực hiện được việc mua thẻ BHYT cho hộ đói nghèo, được tạm thời áp dụng như sau:
- Miễn viện phí cho hộ đói khi đến điều trị nội trú.
- Giảm 1/2 viện phí cho hộ nghèo khi điều trị nội trú.
Các hộ trên phải có giấy (hoặc thẻ) chứng nhận đói, nghèo do Sở Lao động – TBXH cấp.
3. Các đối tượng chính sách:
Các đối tượng ghi ở mục D phần II thông tư 14/TT – LB đã đính chính tại công văn số 8520/KH – TC ngày 21/11/1995 của Bộ Y tế, được nhà nước cấp kinh phí để Sở Lao động – TBXH trực tiếp mua thẻ BHYT; khi khám bệnh, chữa bệnh được cơ quan BHYT thanh toán với các cơ sở khám, chữa bệnh theo qui định.
4. Người có thẻ BHYT khi khám, chữa bệnhđược cơ quan BHYT thanh toán cho các cơ sở khám, chữa bệnh theo các qui định hiện hành.
5. Mức thu một phần viện phí:
a - Mức thu đối với đối tượng phải thu một phần viện phí:
- Đối với điều trị ngoại trú: Thu theo mức trung bình đối với việc khám bệnh và kiểm tra sức khoẻ, các dịch vụ kỹ thuật, xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh… mà người bệnh đã được phục vụ tạikhung giá theo thông tư số 14/TT- LB ngày 30/09/1995 (Tại phần A khung giá khám và kiểm tra sức khoẻ, Phần C khung giá các dịch vụ kỹ thuật xét nghiệm).
-Đối với điều trị nội trú: Được áp dụng mức thu trung bình ngày giường bệnh(phần B bảng B1 của khung giá kèm theo)và tiền chi thực tế sử dụng trực tiếp cho người bệnh bao gồm: thuốc, máu, dịch truyền, xét nghiệm, phim XQ và thuốc cản quangtại thông tư số 14/TT- LB ngày 30/09/199
+ Một số trường hợp bệnh nhân có nhu cầu khám chữa bệnh theo yêu cầu thì thu theo mức chi thực tế bệnh án.
+ Các trường hợp tiêu cực (nói ở mục 1.4 điều I của quyết định này) thu theo mức tối đa, trường hợp chi trả thực tế cao hơn mức tối đa của phần B bảng B1 và phần C của khung giá kèm theo thông tư 14/TT- LB thì phải nộp theo mức chi của bệnh án.
+ Những trường hợp bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo thuộc diện hộ nghèo hoặc có hoàn cảnh khó khăn, nằm điều trị dài ngày tại bệnh viện mà bị tử vong thì được miễn hoặc giảm thu một phần viện phí.
b. Đối với bệnh nhân có thẻ BHYT:
Người có thẻ BHYT được cơ quan BHYTthanh toán với bệnh viện toàn bộ chi phí thực tế và tiền ngày giường bệnh áp dụng tại quyết định này đúng với thông tư Liên tịch số: 14/TTLB ngày 30/09/1995 của Liên bộ: Y tế - Tài chính - LĐXH - Ban vật giá Chính phủ; Thông tư 15/1998/TT-LT-BYT-BTC - BTĐTBXH ngày 29/01/1999 của Liên bộ LĐTBXH - Bộ Y tế - Bộ tài chính và Thông tư số 17/1998/TT- BYT ngày 19/12/1998 của Bộ Y tế.
Điều II: QUẢN LÝ THU CHI
- Các bệnh viện phải mở tài khoản tiền gửi về thu viện phí tại kho bạc nhà nước cùng cấp. Ít nhất 5 ngày một lần, các bệnh viện phải nộp số dư vượt mức tồn quỹ quy định vào tài khoản tiền gửi viện phí để khi cần rút ra sử dụng (Theo đúng quy định tại mục 5 phần VI của thông tư 14/TTLB ngày 30/09/1995).
- Sở Y tế thống nhất với Sở Tài chính – Vật giá hướng dẫn và chỉ đạo các cơ sở khám chữa bệnh thực hiện thu, chi đảm bảo đúng nguyên tắc kế toán tài chính. Thực hiện quản lý, sử dụng thanh toán biên lai thu viện phí theo đúng qui định của quyết định số 529/TC - QĐ - TCT ngày 22/12/1992 của Bộ Tài chính quy định chế độ quản lý ấn chỉ thuế. Tiến hành ghi thu, ghi chi theo công văn số 2669/TC - HCSN ngày 02/06/1999 của Bộ trưởng Bộ Tài chính.
- Khoản thu một phần viện phí , kể cả viện phí do cơ quan BHYT chi trả cho người bệnh là nguồn thu ngân sách Nhà nước được sử dụng theo qui định tại thông tư số 14/TT- LB ngày 30/09/1995, thông tư 09 ngày 13/07/1998 của Bộ Y tế.
+ 70% dành cho các cơ sở khám bệnh và điều trị để mua thuốc , máu, dịch truyền, hoá chất, phim X.quang, vật tư, dụng cụ y tế (kể cả quần áo, chăn màn, giường chiếu và vật tư rẻ tiền mau hỏng)... phục vụ trực tiếp người bệnh kịp thời.
+ 25 % để khen thưởng CBCNV có tinh thần trách nhiệm cao đối với người bệnh và hoàn thành tốt nhiệm vụ.
+ 5% nộp về Sở Y tế lập quỹ hỗ trợ điều hoà cho các cơ sở không có điều kiện thu viện phí hoặc thu quá thấp và khen thưởng cho tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân. Sở Y tế phối hợp với Sở Tài chính – Vật giá cứ 3 tháng 1 lần lập dự toán sử dụng 5% này, đảm bảo công bằng, hợp lý, đúng mục đích, kịp thời hỗ trợ, động viên các cơ sở y tế không có điều kiện thu viện phí, các tập thể và cá nhân có thành tích.
Giám đốc các bệnh viện tổ chức thực hiện, niêm yết công khai bảng giá, sắp xếp nơi thu, người thu thuận lợi (kể cả ngoài giờ) không để các khoa, phòng tự thu, không được thu thêm bất cứ khoản nào ngoài viện phí.
Trường hợp bệnh nhân cấp cứu hoặc chấn thương đến bệnh viện phải thực hiện đúng chỉ thị 661 TTg ngày 17/10/1995 của Thủ tướng Chính phủ, phải tiếp nhận cứu chữa ngay. Sau khi người bệnh qua khỏi cơn nguy kịch thì cơ sở y tế mới xem xét thu viện phí theo qui định tại Nghị định 95/CP của Chính phủ; Thông tư số 14 TT- LB ngày 30/09/199
ĐiềuIII: Quyết định này có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày ký và thay thế quyết định 3220 VX/UBTH ngày 27/11/1995 của UBND tỉnh; Các quy định và văn bản trước đây trái với Quyết định này đều bị huỷ bỏ.
Giao cho Giám đốc Sở Y tế, Sở Tài chính – Vật giá, Sở LĐTB&XH căn cứ vào các nghị định , thông tư hướng dẫn thi hành và các nội dung của quyết định này để hướng dẫn tổ chức thực hiện.
Điều IV:Chánh văn phòng UBND tỉnh, Giám đốc Sở Y tế, Giám đốc Sở Tài chính- Vật giá, Giám đốc Sở LĐTB&XH, Thủ trưởng các Ban, Ngành, các Tổ chức xã hội và Chủ tịch UBND Huyện, Thị, Thành phố chịu trách nhiệm thi hành quyết định này./.