|
ỦY
BAN NHÂN DÂN |
CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 1621/QĐ-UB-KT |
TP. Hồ Chí Minh, ngày 08 tháng 04 năm 1997 |
QUYẾT ĐỊNH
VỀ VIỆC DI CHUYỂN DÂN CƯ, CÁC TỔ CHỨC VÀ BAN HÀNH BẢN QUY ĐỊNH ĐỀN BÙ, TRỢ CẤP THIỆT HẠI TRONG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG KHU CÔNG NGHIỆP TÂN BÌNH, PHƯỜNG 15 - PHƯỜNG 16, QUẬN TÂN BÌNH.
ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Căn cứ Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ngày 21 tháng 6 năm 1994; Căn cứ Quyết định số 65/TTg và 64/TTg ngày 01/2/1997 của Chính phủ về việc thành lập Khu công nghiệp Tân Bình - phê duyệt dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng Khu công nghiệp; và phê duyệt dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh khu phụ trợ nhà ở Khu công nghiệp Tân Bình, quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh; Căn cứ Nghị định số 87/CP ngày 17/8/1994 của Chính phủ quy định khung giá các loại đất; Xét đề nghị của Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận Tân Bình và Trưởng Ban Vật giá thành phố (công văn số 63/VG-TB ngày 11/3/1997);
QUYẾT ĐỊNH
Điều 1. Nay tiến hành di chuyển toàn bộ các hộ dân cư, các cơ quan, đơn vị Nhà nước và tổ chức khác trong phạm vi quy hoạch xây dựng Khu công nghiệp Tân Bình thuộc địa bàn phường 15 - phường 16, quận Tân Bình.
Danh sách các hộ dân cư và các cơ quan, đơn vị, tổ chức khác phải di chuyển do Ủy ban nhân dân quận Tân Bình xác định và công bố.
Điều 2. Ban hành kèm theo quyết định này Bản quy định về đền bù, trợ cấp thiệt hại về đất và tài sản hiện có trên đất và bố trí định cư trong phạm vi quy hoạch xây dựng công trình nêu tại điều 1 của quyết định này.
Điều 3. Thành lập Ban chỉ đạo di chuyển, đền bù của công trình do Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận Tân Bình làm Trưởng Ban. Ủy nhiệm cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận Tân Bình lập danh sách các thành viên trong Ban chỉ đạo.
Kinh phí hoạt động của Ban chỉ đạo do đơn vị chủ đầu tư công trình tài trợ trích trong kinh phí di chuyển, đền bù (không quá 1% tổng kinh phí đền bù).
Điều 4. Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân thành phố, Giám đốc các Sở Địa chính, Tài chánh, Xây dựng, Vật giá, Nhà đất, Kiến trúc sư trưởng thành phố, Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận Tân Bình, Công ty Sản xuất Kinh doanh Xuất nhập khẩu Dịch vụ và Đầu tư Tân Bình (Tanimex), Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường 15 và phường 16 quận Tân Bình, Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị và tổ chức khác có liên quan, các hộ gia đình và cá nhân trong khu vực quy hoạch xây dựng công trình trên chịu trách nhiệm thi hành quyết định này./.
T/M ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐK/T CHỦ TỊCHPHÓ CHỦ TỊCH Trần Thành Long |
Phần II
.
1. Đất ở là đất hiện hữu có nhà, bao gồm cả khuôn viên nhà (nếu có) đang sử dụng hợp pháp và hợp lệ, kể cả đất được cơ quan có thẩm quyền giao đất để sử dụng vào mục đích làm nhà ở nhưng chưa xây dựng nhà, đã hoàn tất thủ tục xin sử dụng đất và đã san lấp mặt bằng.
2. Đất ở phải phù hợp quy hoạch, không nằm trên mặt nước của kênh, rạch và sông, đất không vi phạm các công trình và hành lang bảo vệ các công trình kỹ thuật hạ tầng (ngoại trừ các trường hợp đã sử dụng đất hợp pháp, hợp lệ trước khi công bố quy hoạch) và không có tranh chấp.
3. Đất ở hợp pháp là đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng của cơ quan có thẩm quyền theo qui định của Luật đất đai; đất ở hợp lệ được xác định theo công văn số 647/CV-ĐC ngày 31/5/1995 của Tổng cục Địa chính về việc hướng dẫn một số điểm thực hiện Nghị định số 60/CP ngày 5/7/1994 của Chính phủ và theo Quyết định số 6280/QĐ-UB-QLĐT ngày 26/8/1995 của Ủy ban nhân dân thành phố về việc ban hành qui định cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở tại thành phố Hồ Chí Minh.
4. Diện tích đất ở để tính đền bù và trợ cấp áp dụng theo mức quy định tại điều 5 của Bản quy định này.
Điều 5. Đơn giá đền bù, trợ cấp đất ở:
Điều 6. Đối với đất của các cơ quan, đơn vị và tổ chức khác:
1. Cơ quan Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân được Nhà nước giao đất mà được miễn nộp tiền sử dụng đất hoặc đã nộp tiền sử dụng đất bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước, thì khi Nhà nước thu hồi đất, các tổ chức này không được đền bù thiệt hại về đất, nhưng được xem xét cấp đất mới cho từng trường hợp theo thẩm quyền của Chính phủ hoặc của Ủy ban nhân dân thành phố (nếu xét thấy việc sử dụng đất có hiệu quả, đúng mục đích). Trường hợp đất cho thuê lại, đất sử dụng không hiệu quả, lãng phí hoặc sử dụng không đúng mục đích của Nhà nước giao thì bị thu hồi không điều kiện.
2. Doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp của các tổ chức chính trị - xã hội, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, đơn vị kinh tế tập thể, doanh nghiệp tư nhân, khi Nhà nước thu hồi đất:
a. Trường hợp đất đang sử dụng là đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng hoặc có quyết định giao đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và đã nộp tiền sử dụng đất mà tiền đó không thuộc nguồn vốn của ngân sách Nhà nước thì được hỗ trợ bằng cách giao đất hoặc thuê đất khác tương ứng với diện tích đang sử dụng hợp pháp hoặc được đền bù bằng tiền tương đương với giá trị diện tích đất bị thu hồi. Giá trị đất được áp dụng theo đơn giá ghi trong Quyết định 05/QĐ-UB-QLĐT ngày 04/01/1995 của Ủy ban nhân dân thành phố.
b. Trường hợp đất đang sử dụng mà khi được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao không phải nộp tiền sử dụng đất hoặc nộp tiền sử dụng đất bằng nguồn vốn của ngân sách Nhà nước thì không được đền bù thiệt hại về đất. Thành phố trợ cấp bằng cách giao đất hoặc thuê đất khác hoặc bằng tiền với mức bằng 20% giá trị đất bị thu hồi (QĐ.05).
c. Trường hợp đất đang sử dụng là đất có quyết định tạm giao:
c. 1. Nếu đã đóng tiền sử dụng đất bằng nguồn vốn không thuộc ngân sách Nhà nước thì được xét hỗ trợ bằng cách giao đất hoặc thuê đất khác hoặc bằng tiền với mức bằng 30% giá trị đất bị thu hồi (QĐ.05).
c. 2. Nếu chưa đóng tiền sử dụng đất thì được xét bồi hoàn lại chi phí đã đầu tư trên đất, gồm: đền bù, san lấp (nếu có),... nhưng mức bồi hoàn không quá 30% giá trị đất bị thu hồi (QĐ.05).
d. Trường hợp đất có nhà xưởng, kho bãi đang sử dụng là đất có nguồn gốc tự chuyển nhượng hoặc mua nhà xưởng do Nhà nước thanh lý (có giá trị đất) bằng nguồn vốn không thuộc ngân sách Nhà nước, có giấy tờ hợp lệ về quyền sử dụng đất thì được đền bù theo mức quy định tại điều 5 của Bản quy định này.
3. Đối với đất có nguồn gốc chuyển nhượng trái phép, đang sử dụng nhưng không có giấy tờ hợp lệ thì Ủy ban nhân dân quận Tân Bình cùng Ban chỉ đạo di chuyển đền bù của công trình xem xét từng trường hợp cụ thể, dựa theo công văn số 1427/CV-ĐC ngày 13/10/1995 của Tổng cục Địa chính về việc hướng dẫn xử lý một số vấn đề về đất đai để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất , để xác định mức bồi hoàn, trợ cấp hợp lý hoặc xử lý theo pháp luật hiện hành.
Điều 7. Đất nông nghiệp (đất ruộng, vườn, ao hồ):
1. Đất có quyền sử dụng hợp pháp được đền bù theo khung giá đất trồng cây hàng năm quy định tại Nghị định số 87/CP ngày 17/8/1994 của Chính phủ và được trợ cấp thêm như sau:
Điều 8. Nhà thuộc sở hữu tư nhân:
1. Nhà xây dựng hợp pháp, có giấy tờ hợp lệ hoặc có đủ điều kiện để cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà theo Nghị định 60/CP ngày 5/7/1994 của Chính phủ, được đền bù 100% giá trị xây dựng nhà hiện có theo đơn giá ghi trong bản phụ lục số 2 kèm theo Bản quy định này, kể cả vật kiến trúc khác.
2. Nhà không có giấy tờ hợp lệ, không thuộc tài sản của Nhà nước, không có tranh chấp, tạo lập từ ngày 18/12/1980 (ngày Hiến pháp được Quốc hội thông qua) đến trước ngày 4/11/1992 (ngày Ủy ban nhân dân quận Tân Bình thông báo khu vực quy hoạch xây dựng) được đền bù bằng 80% đơn giá của nhà có giấy tờ hợp lệ quy định tại khoản 1 trên.
3. Nhà xây dựng bất hợp pháp từ ngày 4/11/1992 đến nay, không được đền bù, trợ cấp, phải tháo dỡ nhà không điều kiện. Nếu tự nguyện và chấp hành tốt, được hỗ trợ chi phí di chuyển nhà theo mức quy định tại khoản 2, điều 17 của Bản quy định này.
Điều 9. Nhà thuộc sở hữu Nhà nước:
1. Cá nhân, hộ gia đình có quyết định của cơ quan, đơn vị Nhà nước cấp nhà, tạm cấp, tạm giao, hợp đồng thuê nhà thuộc sở hữu Nhà nước hoặc nhà do nguồn vốn ngân sách Nhà nước tạo lập, nay bị thu hồi không được đền bù thiệt hại về nhà và đất. Người đang sử dụng hợp pháp được thuê một căn nhà khác theo chỉ định của Ủy ban nhân dân quận hoặc Ủy ban nhân dân thành phố.
2. Trường hợp người đang sử dụng nhà hợp pháp chấp nhận tự di chuyển, không yêu cầu thuê thuộc nhà sở hữu Nhà nước, được trợ cấp thống nhất một lần tiền như sau:
a. Mức trợ cấp:
a. 1. Nhà phố và nhà có khuôn viên riêng: 700.000 đ/m2 sàn sử dụng.
a. 2. Nhà chung cư, nhà ở nhiều hộ: 560.000 đ/m2 sàn sử dụng.
a. 3. Số m2 sàn sử dụng được tính trợ cấp là số m2 ghi trong quyết định tạm cấp, tạm giao, hợp đồng thuê nhà hoặc giấy cấp nhà của cơ quan Nhà nước (do cơ quan, đơn vị quản lý căn nhà xác nhận). Không tính phần diện tích hành lang, ban công, lối đi chung và diện tích lấn chiếm. Đối với hộ gia đình ở chung cư, ở trong một căn nhà có nhiều hộ thì số m2 tính trợ cấp tương ứng với diện tích sàn nhà của mỗi hộ đang sử dụng hợp pháp.
b. Trường hợp gia đình có tự cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới tăng thêm diện tích nhà, được cơ quan có thẩm quyền cho phép, được đền bù 100% theo đơn giá xây dựng quy định tại khoản 1 điều 8 đối với phần diện tích tự cải tạo hoặc xây dựng mới có giấy phép.
3. Các hộ gia đình và cá nhân đang sử dụng hợp pháp nhà thuộc sở hữu Nhà nước nay phải di chuyển, được hưởng các khoản trợ cấp quy định tại điều 17 của Bản quy định và được ưu tiên mua một nền nhà hoặc căn nhà tại khu bố trí định cư của dự án.
Điều 10. Nhà thuộc sở hữu của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh:
Điều 11. Nhà của các doanh nghiệp quốc doanh:
1. Nhà đã được cấp có thẩm quyền (Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh hoặc Bộ chủ quan) giao thành tài sản cố định cho doanh nghiệp hoặc tạo lập bằng nguồn vốn không thuộc ngân sách Nhà nước được đền bù 100% theo đơn giá tại Quyết định số 5184/QĐ-UB-KT ngày 9/11/1996 của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.
2. Nhà doanh nghiệp thuê Nhà nước thì không đền bù cho đơn vị đang thuê nhà, chỉ tính đền bù tài sản cho đơn vị thuê nhà theo đơn giá quy định tại khoản 1 của điều này. Trường hợp có cho thuê lại, thì đơn vị đang sử dụng nhà tự giải quyết việc chấm dứt hợp đồng với bên thuê lại.
Điều 12. Nhà của các cơ quan hành chánh sự nghiệp:
Điều 13. Nhà có điện thoại, đồng hồ nước, điện (thuê bao), giếng... được đền bù:
Điều 14. Cây trồng, vật nuôi:
Điều 15. Mồ mả:
1. Mộ đất: 000.000 đ/mộ.
2. Mộ xây thường, đá ong: 1.500.000 đ/mộ.
3. Mộ xây bán kiên cố: 2.500.000 đ/mộ.
4. Mộ xây kiên cố: 000.000 đ/mộ.
5. Mộ cải táng: 300.000 đ/mộ.
Điều 16. Đối với các công trình kỹ thuật hạ tầng (đèn đường, cáp điện thoại, đường điện, đường cấp thoát nước...) sẽ áp dụng phương án di dời cụ thể cho từng trường hợp. Phương án di dời do đơn vị quản lý trực tiếp công trình đó lập, thông qua cơ quan chủ quản xét duyệt và có sự xem xét, thống nhất của Ban chỉ đạo di chuyển về mức đền bù thiệt hại khi di dời.
Điều 17. Các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân có nhà ở hợp pháp phải di chuyển toàn bộ, ngoài mức trợ cấp về nhà và đất, được trợ cấp thêm các khoản như sau:
1. Trợ cấp đời sống: Được trợ cấp một lần 000.000 đ cho mỗi nhân khẩu có hộ khẩu thường trú tại căn nhà phải di chuyển. Đối với những người có hộ khẩu gốc tại thành phố đã đi hồi hương, lập nghiệp vùng kinh tế mới nay trở về thành phố chưa có nhà ở, được cơ quan Công an cho tạm trú dài hạn tại căn nhà phải di chuyển và đã có thời hạn tạm trú tối thiểu 3 năm, kể cả đối tượng thuộc diện KT.3, được nhận trợ cấp như nhân khẩu thường trú.
2. Trợ cấp tháo dỡ di chuyển nhà:
Điều 18. Đơn vị chủ đầu tư công trình chịu trách nhiệm phối hợp với các cơ quan chức năng lập quy hoạch và kế hoạch cụ thể về việc xây dựng hoàn chỉnh khu định cư mới cùng với phương án tái bố trí lại dân cư trong khu vực phải di chuyển trình Ủy ban nhân dân thành phố quyết định. Việc bố trí lại dân cư được thực hiện theo các hướng sau:
1. Áp dụng các phương thức thích hợp với hình thức đền bù, trợ cấp: bán đứt, bán trả góp, cho thuê theo nguyên tắc không kinh doanh thu lãi. Chính sách và kế hoạch bố trí lại nơi ở mới cho dân cư sau khi được cơ quan có thẩm quyền xét duyệt, phải công bố cho nhân dân trong khu vực di chuyển biết trước.
2. Việc sắp xếp nơi ở mới cho những hộ phải di chuyển với nguyên tắc chỉ giải quyết cho những hộ có nhà ở hợp pháp, hộ khẩu thường trú tại địa phương nơi phải di chuyển, mỗi hộ 1 nền nhà theo quy hoạch nơi định cư mới, và phải thanh toán lại cho Nhà nước số tiền theo đơn giá sau (không tính tiền sử dụng đất đối với phần diện tích đất dùng để hoán đổi, bán lại cho các đối tượng có nhà phải di chuyển để xây dựng công trình):
Điều 19. Ủy ban nhân dân thành phố giao trách nhiệm cho Ủy ban nhân dân quận Tân Bình phối hợp cùng Ban Vật giá thành phố và Ban chỉ đạo di chuyển, đền bù của dự án tổ chức phổ biến giải thích, hướng dẫn thực hiện cụ thể Bản quy định này đến các đối tượng trong khu vực quy hoạch xây dựng công trình biết để thực hiện và giám sát việc đền bù, trợ cấp đúng quy định.
Điều 20. Những trường hợp tranh chấp về quyền sử dụng đất. Chỉ đền bù, trợ cấp sau khi tranh chấp đã được cơ quan có thẩm quyền giải quyết bằng quyết định có hiệu lực thi hành.
Điều 21. Những người không chấp hành hoặc cố tình trì hoãn, gây khó khăn, gây cản trở chủ trương, chính sách, kế hoạch di chuyển, đền bù, đã được cơ quan chức năng giải thích nhiều lần và thực hiện đúng quy định đền bù, trợ cấp theo Bản quy định này nhưng vẫn không chấp hành di chuyển, Ủy ban nhân dân quận Tân Bình được quyền ra quyết định cưỡng chế thi hành. Số tiền đền bù, trợ cấp theo quy định được tạm gởi vào Ngân hàng Nhà nước theo chế độ tiền gởi tiết kiệm do đơn vị chủ đầu tư công trình đứng tên. Trong khi chờ cơ quan có thẩm quyền quyết định sau cùng, người khiếu nại vẫn phải chấp hành di chuyển đến nơi định cư mới.
Điều 22. Bản quy định này được áp dụng kể từ ngày ký và được áp dụng luôn cho các dự án đầu tư có cùng mục đích sử dụng đất trên cùng khu vực kế cận./.