|
UBND TỈNH BÌNH PHƯỚC Số: 15/2002/QĐ-UB |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------------------- tỉnh Bình Phước, ngày 27 tháng 03 năm 2002 |
QUYẾT ĐỊNH CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH
V/v Ban hành kế hoạch cải cách hành chính ở tỉnh Bình Phước giai đoạn 2002-2005
________________________
UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND (sửa đổi) ngày 21/06/1994;
- Căn cứ Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17/9/2001 của Thủ tướng Chính phủ v/v phê duyệt chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2001-2010;
- Xét đề nghị của Ban chỉ đạo cải cách hành chính tỉnh.
QUYẾT ĐỊNH
Điều 1: Ban hành kèm theo Quyết định này “Kế hoạch cải cách hành chính ở tỉnh Bình Phước giai đoạn 2002-2005”
Điều 2: Căn cứ vào kế hoạch cải cách hành chính giải đoạn 2002-2005, Ban chỉ đạo cải cách hành chính tỉnh tham mưu với UBND tỉnh về nội dung cải cách hành chính cho từng năm, đồng thời giúp UBND tỉnh theo dõi, kiểm tra, đôn đốc và hướng dẫn các ngành, các cấp thực hiện và hàng năm có báo cáo kết quả về UBND tỉnh biết để có ý kiến chỉ đạo.
Điều 3: Các ông (bà) Chánh Văn phòng UBND tỉnh, Trưởng Ban Tổ chức chính quyền tỉnh, thành viên Ban chỉ đạo cải cách hành chính tỉnh, Chủ tịch UBND huyện, thị xã, Thủ trưởng các đơn vị có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.
T/M UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH
CHỦ TỊCH
(Đã ký)
NGUYỄN TẤN HƯNG
KẾ HOẠCH
Cải cách hành chính ở tỉnh Bình Phước giai đoạn 2002-2005
(Ban hành kèm theo Quyết định số 15/2002/QĐ-UB ngày 27-03-2002 của UBND tỉnh Bình Phước )
________________________
I. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH TRONG THỜI GIAN QUA:
Thực hiện Nghị quyết số 38/CP ngày 04/5/1994 của Chính phủ và Chỉ thị 342/CT-TTg ngày 22/5/1997 của Thủ tướng Chính phủ về công tác cải cách hành chính, hàng năm UBND tỉnh Bình Phước đã xây dựng chương trình cải cách hành chính của tỉnh; theo đó các Sở, ban, ngành và UBND các huyện, thị xã trong phạm vi chức năng nhiệm vụ của các ngành mình đã triển khai thực hiện công tác cải cách hành chính đạt được mốt số kết quả đáng kể. Hiện nay hầu hết các Sở, ban, ngành đã xây dựng được quy chế tổ chức và hoạt động của đơn vị mình, quy định chế độ làm việc, đã công khai các thủ tục hành chính cần thiết trong công tác tiếp, giải quyết đơn thư và yêu cầu của tổ chức và công dân. Đã thực hiện tốt công tác rà soát các văn bản quy phạm pháp luật và kiến nghị cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung hoặc bỏ những văn bản không còn phù hợp. Công tác tuyển dụng, quản lý, sử dụng cán bộ công chức theo Pháp lệnh Cán bộ công chức đã từng bước đi vào nề nếp; công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức đã được chú trọng hơn.
Tuy nhiên, việc triển khai các nhiệm vụ về cải cách hành chính ở các tỉnh còn chậm, thực trạng đổi mới trong hoạt động của các cơ quan hành chính Nhà nước chưa thật sự rõ nét. Một số phòng, ban trực thuộc ở một số cơ quan hiện nay chưa làm rõ về nguyên tắc tổ chức và nội dung hoạt động do đó thiếu năng động trong làm việc cũng như trách nhiệm tham mưu, đề xuất với lãnh đạo các cấp, một bộ phận công chức năng lực, trình độ còn hạn chế, chưa ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ. Hiện nay chưa làm rõ mối quan hệ quản lý song trùng một số cơ quan nằm trên địa bàn huyện, thị xã do tỉnh quản lý như : Kiểm lâm, Quản lý thị trường, giáo dục, y tế, nông nghiệp… Thủ tục hành chính cũng còn rườm rà, mất nhiều thời gian cho các tổ chức và cá nhân có yêu cầu giải quyết; chính sách thu hút các nhà đầu tư chậm được ban hành…
Những tồn tại trên, nguyên nhân chủ yếu là :
- Đây là một công việc làm mới mẽ, chưa có kinh nghiệm, quá trình triển khai còn gặp nhiều lúng túng mà công vịêc đòi hỏi phải chọn những bước đi thích hợp với tình hình thực tế ở tỉnh.
- Các Bộ, ngành Trung ương chưa có chỉ đạo hướng dẫn cụ thể về nội dung cải cách hành chính ở địa phương. Hệ thống văn bản ở các Bộ, ngành Trung ương còn quá nhiều, thiếu đồng bộ…, quy định quá nhiều thủ tục, nhiều lần đóng dấu, gây trở ngại trong quá trình cải cách thủ tục hành chính ở tỉnh.
II. NỘI DUNG CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH CỦA TỈNH TRONG GIAI ĐOẠN 2002-2005
1. Trên cơ sở các quy định của Nhà nước, tiếp tục nghiên cứu xây dựng để ban hành cơ chế chính sách khuyến khích đầu tư cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư trên địa bàn tỉnh Bình Phước, nhằm phát huy mọi nguồn lực của tỉnh, đồng thời đi đôi với việc tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước, đảm bảo trật tự kỷ cương trong hoạt động kinh tế - xã hội của tình nhà
2. Đẩy mạnh công tác cải cách thủ tục hành chính nhằm đạt được mục tiêu nâng cao chất lượng công việc, giải quyết các đơn, thư yêu cầu của tổ chức và cá nhân nhanh, gọn, thuận lợi. Xoá bỏ các thủ tục hành chính mang tính quan liêu, rườm ra gây phiền hà cho tổ chức và công dân; hoàn thiện các thủ tục hành chính mới theo hướng công khai, đơn giản, thuận lợi nhưng đảm bảo quản lý Nhà nước được chặt chẽ.
Tăng cường kỷ luật hành chính, triệt để xoá bỏ nguồn gốc tạo ra cửa quyền, tham nhũng, ban hành quy chế kiểm tra công chức trong quá trình tiếp nhận và giải quyết công việc của nhân dân; xử lý nghiêm khắc đối với những công chức có hành vi cửa quyền, lạm quyền, tham nhũng , sách nhiễu, vô trách nhiệm khi giải quyết công việc của nhân dân. Tiếp tục cải tiến lề lối làm việc ở các cơ quan, đơn vị.
3. Tiếp tục thực hiện việc rà soát các văn bản quy phạm pháp luật theo từng lĩnh vực, kiến nghị cấp có thẩm quỳên điều chỉnh, bổ sung, sửa đổi hoặc bãi bỏ những văn bản quy phạm pháp luật không còn phù hợp hoặc chồng chéo, trùng lắp.
Rà soát lại để huỷ bỏ hoặc đề nghị hủy bỏ các quy định bắt buộc cá nhân phải nộp bản sao giấy tờ có công chứng của Phòng công chứng Nhà nước trong hồ sơ tuyển sinh, tuyển dụng, bổ nhiệm, giải quyết chính sách và các công tác khác về công chứng, chứng thực theo Nghị định 75/2000/NĐ-CP của Chính phủ.
4. Thực hiện xong về cơ bản việc rà soát chức năng, nhiệm vụ của Sở, ban, ngành và các cơ quan chuyên môn ở huyện, thị xã. Thực hiện việc tinh giản biên chế theo Nghị quyết 16/2000/NQ-CP Chính phủ .
Thực hiện tốt việc tinh giản biên chế theo quy định của Chính phủ, đồng thời nghiên cứu đổi mới phương thức hoạt động một số Ban quản lý rừng phù hợp với điều kiện và tình hình phát trỉên ở tỉnh, đảm bảo thực hiện công tác quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng đất rừng một cách có hiệu quả.
5. Để có cơ chế quản lý thích hợp đối với từng loại hình đơn vị sự nghiệp, yêu cầu phải rà soát lại và xác định theo 3 loại như sau:
- Loại đơn vị hoàn toàn phục vụ lợi ích công cộng vì mục tiêu phát triển xã hội, Nhà nước quy định không được thu phí và lệ phí (do Ngân sách Nhà nước đài thọ kinh phí hoạt động và tiền lương).
- Loại đơn vị sự nghiệp phục vụ lợi ích công cộng nhưng Nhà nước cho phép thu để trang trải một phần kinh phí hoạt động.
- Loại đơn vị sự nghiệp có thu hoạt động theo phương thức hạnh toán, tự trang trải về kinh phí hoạt động và tiền lương (ngân sách Nhà nước không cấp kinh phí) .
6. Thực hiện thí điểm và mở rộng khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính ở một số Sở, ngành và một số UBND huyện, thị xã (theo Quyết định số 192/2001/QĐ-TTg ngày 17/12/2001 của Thủ tướng Chính phủ về mở rộng khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với cơ quan hành chính Nhà nước).
7. Tiến hành xã hội hoá đối với các ngành Giáo dục, Y tế, văn hoá thể thao theo tinh thần Nghị định số 73/1999/NĐ-CP ngày 19/8/1999 của Chính phủ đối với những nơi có đủ điều kịên.
8. Trên cơ sở các văn bản quy phạm pháp luật của Trung ương quy định, tiến hành thực hiện việc phân cấp, phân quyền cho UBND huyện, thị xã ở một số lĩnh vực như : Địa chính, nhà đất, xây dựng, vốn đầu tư…
Làm rõ nội dung quản lý chuyên ngành của Sở đối với các doanh nghiệp Nhà nước. Làm rõ nội dung quản lý hành chính trên địa bàn lãnh thổ của UBND huyện, thị xã đối với các cơ quan, đơn vị Trung ương của tỉnh đóng trên địa bàn
9. Xây dựng cơ cấu công chức hợp lý gắn với chức năng, nhiệm vụ trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp ở tỉnh và ở cấp huỵên, thị; xây dựng đội ngũ công chức ngay càng nâng cao chất lượng. Hoàn thiện chế độ tuyển dụng công chức, quản lý công chức, chọn đúng người đủ tiêu chuẩn vào bộ máy Nhà nước, đồng thời kiên quyết đưa ra khỏi bộ máy những công chức không đủ năng lực trình độ, vi phạm pháp luật, vi phạm đạo đức nghề nghiệp, nâng cao năng lực công tác của đội ngủ công chức Nhà nước. Ban hành tiêu chuẩn chức danh cán bộ chính quyền cơ sở.
10. Đổi mới nội dung, chương trình và phương thức đào tạo, bồi dưỡng công chức hành chính và cán bộ chính quyền cơ sở, nâng cao chất lượng giảng dạy, chú trọng nâng cao kiến thức, kỹ năng hành chính cho đội ngũ công chức theo chức trách, nhiệm vụ. Mỗi loại cán bộ, công chức có chương trình, nội dung đào tạo, bồi dưỡng cho phù hợp, kết hợp đào tạo chính quy với các hình thức đào tạo không chính quy. Khuyến khích cán bộ công chức tự học để chuẩn hoá tiêu chuẩn của ngạch công chức. Chú ý đến công tác đào tạo đối với cán bộ chính quyền cơ sở.
11. Tiếp tục đẩy mạnh công tác thực hiện quy chế dân chủ đến các xã, phường, thị trấn; có chế độ thông tin công khai cho dân biết về chủ trương chính sách của Nhà nước, của chính quyền các cấp, cán bộ lãnh đạo chủ chốt của các ngành ở tỉnh, huyện, thị xã định kỳ trực tiếp gặp gỡ, đối thoại giải quyết các vấn đề đặt ra trong đời sống xã hội; tiếp tục thực hiện quy chế dân chủ ở các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp và trong các doanh nghiệp Nhà nước.
12. Tiến hành đầu tư phương tiện vật chất kỹ thuật hiện đại, sử dụng công nghệ thông tin để phục vụ cho công tác chỉ đạo, điều hành, quản lý hành chính, thực hiện tốt côg tác lưu trữ để cung cấp thông tin trong lĩnh vực quản lý Nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính Nhà nước trên địa bàn tỉnh. Tiếp tục phát triển mạng tin học diện rộng theo quy định của Chính phủ. Phấn đấu đến năm 2005 hoàn chỉnh việc kết nối hệ thống mạng của Văn phòng UBND tỉnh đến Tỉnh uỷ. HĐND tỉnh, Văn phòng UBND của huyện, thị xã và các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh. Đầu tư cho chính quyền cấp cã, phường, thị trấn có trụ sở và phương tiện làm việc đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý.
13. Hàng năm tổ chức kiểm tra việc thực hiện cải cách thủ tục hành chính ở một số Sở, ngành, huyện, thị xã. Tổ chức hội nghị đánh giá việc thực hiện công tác cải cách hành chính trên địa bàn tỉnh.
Cải cách thủ tục hành chính phải có trọng tâm, trọng điểm, tập trung cải cách những thủ tục có liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của công dân như các lĩnh vực : nhà đất, xây dựng, địa chính, tiếp dân và giải quyết các đơn thư tố cáo của công dân, coi đó là công cụ quan trọng để đảm bảo hiệu lực quản lý của Nhà nước, quyền làm chủ của nhân dân, thiết lập trật tự, kỹ cương xã hội.
III. TRÁCH NHIỆM TỔ CHỨC THỰC HIỆN CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH CỦA TỈNH GIAI ĐOẠN 2002-2005:
Cải cách hành chính là công việc rất khó khăn, phức tạp, nhạy cảm lại là nhiệm vụ bức bách, là trọng tâm của việc củng cố hoàn thiện Nhà nước ta nói chung và đổi mới tổ chức và hoạt động của các cơ quan hành chính ở tỉnh Bình Phước nói riêng. Để công tác cải cách của tỉnh thật sự có kết quả đòi hỏi Thủ tướng các Sở, ban, ngành, Chủ tịch UBND các huyện, thị xã cần có quan điểm nhất quán, có chương trình hành động thiết thực trong từng thời gian. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện việc cải cách cần phải hết sức thận trọng, tiến hành từng bước, phù hợp với tình hình đặc điểm của tỉnh nhà, không thể nóng vội, giản đơn, phải đảm bảo nguyên tắc quản lý Nhà nước được chặt chẽ.
1. Chủ tịch UBND tỉnh chỉ đạo chung việc triển khai thực hiện kế hoạch cải cách hành chính của UBND tỉnh giai đoạn 2001-2005.
2. Ban Tổ chức chính quyền là cơ quan thường trực của Ban chỉ đạo cải cách hành chính tỉnh giúp Chủ tịch UBND tỉnh chỉ đạo, hướng dẫn các Sở, ngành và huyện, thị triển khai thực hiện kế hoạch cải cách hành chính của tỉnh giai đoạn 2001-2005; đề xuất với UBND tỉnh về việc triển khai thực hiện nội dung cải cách hành chính ở tỉnh theo từng năm.
3. Các Sở, ban, ngành, UBND các huyện, thị xã căn cứ vào kế hoạch này để xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch cải cách hành chính của ngành mình, đơn vị mình đảm bảo thực hiện có kết quả và thiết thực.
Ban Tổ chức chính quyền phối hợp với Văn phòng UBND tỉnh có trách nhiệm theo dõi tiến độ thực hiện, định kỳ báo cáo tình hình và kết quả thực hiện về UBND tỉnh và Ban chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ.