|
UBND TỈNH HÀ TĨNH Số: 1410/2007/QĐ-UBND |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------------------- tỉnh Hà Tĩnh, ngày 14 tháng 07 năm 2007 |
QUYẾT ĐỊNH
Ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết sô 19/NQ-TU ngày 06/5/2005 của Ban Chấp hành Đảng bộ Hà Tĩnh về triển khai Nghị quyết 39/NQ-TW ngày 16/8/2004 của Bộ Chính trị
______________
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND ngày 26/11/2003;
Căn cứ Nghị quyết 39/NQ-TW ngày 16/8/2004 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh vùng Bắc Trung bộ và duyên hải Trung bộ đến năm 2010;
Căn cứ Quyết định số 113/2605/QĐ-TTg ngày 20/5/2005 của Thủ tướng Chính phủ và Thông báo số 117/TB-VPCP ngày 21/6/2005 của Văn phòng Chính phủ;
Căn cứ Nghị quyết số 19/NQ-TU ngày 06/6/2005 của Ban chấp hành Đảng bộ Hà Tĩnh về triển khai thực hiện Nghị quyết 39/NQ-TW của Bộ Chính trị;
Theo đề nghị của liên ngành Sở Kế hoạch - Đầu tư và Văn phòng UBND tỉnh;
QUYẾT ĐỊNH
Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Chương trình hành động của Uỷ ban nhân dân tỉnh thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TU ngày 06/5/2005 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh về triển khai thực hiện Nghị quyết số 39 NQ/TW ngày 16/8/2004 của Bộ Chính trị.
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ban hành.
Giám đốc các Sở, Thủ trưởng các Ban, Ngành cấp tỉnh, Chủ tịch uỷ ban nhân dân các huyện, thị xã chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.
TM. ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH
CHỦ TỊCH
Lê Văn Chất
Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết sô 19/NQ-TU ngày 06/5/2005 của Ban Chấp hành Đảng bộ Hà Tĩnh về
triển khaiNghị quyết 39/NQ-TW ngày 16/8/2004 của Bộ Chính trị
(Ban hành kèm theo Quyết định số 1410QĐIUB-TH ngày 141712005 của Uỷ ban nhân dân tỉnh hà tĩnh)
_________________
Căn cứ Nghị quyết sô 39/NQ-TW ngày 16/8/2004 của Bộ Chính trị về phương hướng phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng - an ninh vùng Bắc Trung bộ và duyên hải miền Trung đến năm 2010; Chương trình hành động của Chính phủ ban hành kèm theo Quyết định số 113/2005/QĐ- TTg ngày 20/5/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 39/NQ-TYV của Bộ Chính trị; Văn bản số 1I7/TB-VPCP ngày 21/6/2005 của Văn phòng Chính phủ thông báo kết luận của Phó Thủ tướng Thường trực tại buổi làm việc lãnh đạo tỉnh Hà Tĩnh; Nghị quyết số 19- NQ/TƯ ngày 06/6/2005 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh, Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành Chương trình hành động để chỉ đạo, điều hành các hoạt động đầu tư phát triển theo các mục tiêu, nhiệm vụ đồng thời phân công nhiệm vụ cụ thể cho các ngành, đơn vị, địa phương như sau:
A. MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN CHỦ YÊU:
Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm giai đoạn 2006 - 2010 đạt trên 12%. Trong đó tốc độ tăng khu vực Nông - Lâm - Ngư nghiệp đạt 5,65%, Công nghiệp - Xây dựng trên 23% và Dịch vụ là 11,45%.
Cơ cấu kinh tế đến năm 2010: Nông - Lâm - Ngư nghiệp 32%, Công nghiệp - Xây dựng 33%, Dịch vụ ở mức 35%.
Sản lượng lương thực có hạt đạt 60 vạn tấn.
Nâng tỷ lệ độ che phủ rừng lên 55%; 80% dân số nông thôn được sử dụng nước sạch vào năm 2010.
Kim ngạch xuất khẩu đạt trên 120 triệu USD.
Thu ngân sách trên địa bàn đạt trên 1.200 tỷ đồng.
Hàng năm, giảm tỷ lệ hộ nghèo trên 4%, giải quyết việc làm cho trên 3 vạn lao động, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 35%.
Hoàn thành phổ cập giáo dục trung học phổ thông; 60% số trường mầm non, 100% trường tiểu học, 75% trường trung học cơ sở và 70% số trường trung học phổ thông đạt chuẩn quốc gia; 100% trạm y tế xã có bác sỹ và đạtchuẩn quốc gia, hạ tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi xuống mức 19%; thực hiện giảm tỷ lệ sinh thô 0,4%o/năm và duy trì mức sinh thay thế như hiện nay.
Toàn tỉnh có 90% hộ gia đình và 1.000 làng xã đạt tiêu chuẩn văn hoá, 100% huyện thị có nhà văn hoá, thể thao, thư viện và sân vận động, 90% số hộ được xem truyền hình, 100% sô xã có hệ thống truyền thanh.
10/ 100% xã, phường, thị trấn giữ vững ổn định chính trị
B. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CỤ THỂ.
Triển khai các chương trình phát triển kinh tế:
Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chủ trì, xây dựng Đề án chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn; Đề án phát triển chăn nuôi theo hướng sind hoá đàn bò, nạc hoá đàn lợn (với quy mô tổng đàn trâu
con, đàn bò 246.000 con và đàn lợn 550.000 con, sản lượng thịt trên
tấn) gắn với đầu tư xây dựng Nhà máy chế biến thức ăn gia súc, Nhà máy chế biến các sản phẩm từ thịt; Triển khai đề án phát triển sản xuất hàng hoá với các loại cây trồng chủ yếu, như: cây lạc 27.000 ha, cao su 6.200 ha, chè 2.500 ha, sắn 12.000 ha, dó trầm 6.200 ha, song mây 5.100 ha, trồng rừng nguyên liệu 21.300 ha và các vùng cây ăn quả đặc sản Bưởi Phúc Trạch, Cam Bù Hương Sơn gắn với quy hoạch và đầu tư xây dựng các nhà máy chế biến. Phối hợp với các huyện Hương Khê, Hương Sơn, Vũ Quang và các ngành liên quan triển khai quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội các huyện dọc đường Ho Chí Minh.
Tập trung xây dựng các dự án sản xuất giống (Giống lúa lai Fl, giống lạc cao sản, giống lợn hướng nạc, bò lai sind, cây lâm nghiệp từ mô hom, giống cây ăn quả đặc sản sạch bệnh...) theo hướng ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, đáp ứng nhu cầu về giống trên địa bàn. Phối hợp với UBND huyện Thạch Hà, cẩm Xuyên, Kỳ Anh xây dựng Dự án cải tạo và nâng cấp đồng muối với quy mô sản lượng 50.000 tấn. (Các đề án, dự án hoàn thành trình UBND tỉnh trong quý IV/2005).
Sở Thuỷ sản chủ trì xây dựng và triển khai thực hiện Đề án phát triển kinh tế biển và ven biển theo hướng phát triển mạnh nuôi trồng, củng cố và phát triển đánh bắt xa bờ, phát triển nghề lộng và bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản (với quy mô khai thác 42.000 tấn, diện tích nuôi trồng đạt 13.400 ha (thuỷ sản mặn lợ 6.200 ha, nuôi cá nước ngọt 7.200 ha), kim ngạch thuỷ sản xuất khẩu trên 40 triệu USD; Xây dựng các cơ chế, chính sách khuyến khích, thu hút các thành phần kinh tế tham gia nuôi trồng, chế biến thuỷ sản; Phối hợp với Sở Thương mại - Du lịch xây dựng và triển khai Đề án phát triển du lịch biển gắn với các khu du lịch sinh thái, bãi tắm. (Hoàn thành trình UBND tỉnh trong quý III/2005).
Xây dựng dự án sản xuất giống thuỷ sản đáp ứng 100% giống cá nước ngọt, 70% giống thuỷ sản mặn lợ trên địa bàn; Phối hợp với Sở Nông nghiệp - Phát triển Nông thôn và các địa phương xây dựng Dự án cải tạo và nâng cấp đồng muối với quy mô sản lượng 50.000 tấn. (Hoàn thành trình UBND tỉnh trong quý IV/2005).
Sở Công nghiệp xây dựng và triển khai Đề án củng cố hoạt động sản xuất kinh doanh của các cơ sở sản xuất công nghiệp hiện có theo hướng nâng cao chất lượng và chủng loại các sản phẩm, giảm chi phí sản xuất nhằm nâng cao sức cạnh tranh trong từng sản phẩm công nghiệp. Xây dựng và triển khai Đề án phát triển hệ thống làng nghề truyền thống theo hướng du nhập công nghệ mới. Xây dựng dự án phát triển các sản phẩm mới, như: xi măng, que hàn, đá lát, vật liệu xây dựng cao cấp và các sản phẩm thủ cồng mỹ nghệ.
Sở Thương mại - Du lịch xây dựng Đề án tăng cường công tác xúc tiến thương mại, đẩy mạnh các hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu hàng hoá. Xây dựng cơ chế thích hợp để đầu tư kiên cố các chợ, phấn đấu đến 2010 hệ thống chợ huyện, chợ trung tâm, chợ nông sản được đầu tư xây dựng kiên cố. Tập trung khai thác có hiệu quả, Chợ Thị xã Hà Tĩnh và Trung tâm Thương mại Tây Sơn.
Xây dựng Đề án phát triển ngành du lịch và nâng cao chất lượng dịch vụ Xây dựng cơ chế quản lý quy hoạch các khu du lịch, bãi tắm, các danh lam thắng cảnh; Xây dựng các tour, tuyến du lịch nội vùng và liên vùng.
Phối hợp với các cơ quan chức năng xây dựng môi trường pháp lý thuận lợi cho các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu.
Sở Tài chính chủ trì xây dựng cơ chế tạo nguồn thu từ quỹ đất, nguồn huy động trong dân cư, doanh nghiệp giai đoạn 2005 - 2010 để cân đối trả nợ nguồn vay luân chuyển của Bộ Tài chính khi triển khai các dự án trọng điểm. (Hoàn thành trong quý III/2005).
Phối hợp với Cục Thuế xây dựng và triển khai các giải pháp chống thất thu, quản lý chặt chẽ các loại phí, lệ phí, nhất là lệ phí trước bạ của ô tô, xe máy đất đai; xây dựng kế hoạch thực hiện quy định của Chính phủ về tiết kiệm, chống lãng phí.
Hoàn thiện các chính sách đầu tư, thuế, thương mại, hải quan liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu để phù hợp xu thế hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế. Đơn giản hoá thủ tục hải quan và xuất nhập cảnh tại cửa khẩu Cầu Treo để thu hút hàng hoá, khách du lịch qua cửa khẩu. (Hoàn thành trong quý
III/2005).
Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các Sở, Ban ngành, các địa phương có liên quan tổng hợp và làm việc với Bộ Kế hoạch và Đầu tư để đưa kế hoạch danh mục các dự án Trung ương đầu tư trên địa bàn giai đoạn 2006-2010; Phối hợp với Sở Tài chính xây dựng kế hoạch chuẩn bị các nguồn vốn để thực hiện các dự án trên địa bàn. (Hoàn thành trong Quý III/2005).
Sở Tài nguyên và Môi trường căn cứ quy hoạch tổng thể, rà soát, điều chỉnh và bổ sung quy hoạch sử dụng đất theo hướng đảm bảo triển khai xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng các khu, cụm công nghiệp, đô thị, các làng nghề và các vùng nguyên liệu tập trung.
Chủ trì thực hiện dự án đánh giá tác động môi trường các dự án; Trên cơ sở quy hoạch được duyệt, thực hiện khẩn trương các thủ tục đất đai để thực
hiện các dự án.
Trên cơ sở các quy chế cho vay của Nhà nước, Chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh xây dựng kế hoạch và chỉ đạo các ngân hàng thương mại trên địa bàn tăng cường huy động các nguồn vốn, đẩy mạnh đầu tư tín dụng theo các chương trình, dự án đã được phê duyệt.
Tập trung công tác quy hoạch, quản lý quy hoạch và đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tê - xã hội:
Căn cứ Nghị quyết 39/NQ-TW, Quyết định số 113/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Thông báo 117/TB-VPCP của Văn phòng Chính phủ, Nghị quyết 19NQ/TU của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh, Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì cùng các Sở chuyên ngành, các địa phương tiến hành rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch tổng thể, quy hoạch về phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội đến năm 2010, xác định rõ các chương trình dự án đầu tư trong 5 năm tới, nhu cầu về vốn và cơ cấu vốn đầu tư cho từng chương trình, dự án, các giải pháp, cơ chế huy động vốn đầu tư, lựa chọn thứ tự ưu tiên thực hiện các đề án, dự án quan trọng trình UBND tỉnh đưa vào kế hoạch 2006 - 2010, trong đó ưu tiên các dự án đầu tư cơ sở hạ íầng phục vụ khai thác mỏ sắt, nhà máy luyện thép và phát triển đô thị (Trình phê duyệt vào cuối quý 111/2005).
Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tiến hành rà soát, điều chỉnh quy hoạch các loại cây trồng, vật nuôi tạo vùng sản xuất hàng hoá tập trung, vùng chuyên canh, thâm canh theo hướng tăng giá trị trên đơn vị diện tích, đáp ứng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến (Hoàn thành trong tháng
10/ 2005).
Tham mưu cho UBND tỉnh, làm việc với Chính phủ và các Bộ ngành TW liên quan, tranh thủ các nguồn vốn, xúc tiến lập dự án đầu tư các công trình thuỷ lợi đa mục tiêu, như: Thuỷ lợi Ngàn Trươi - cẩm Trang (Vũ Quang), Thượng nguồn Sông Trí - Kỳ Anh... Đầu tư một số công trình thuỷ lợi vừa và nhỏ để cung cấp nước cho sinh hoạt và tưới cho cây trồng, như: Đập Động Tròn, Khe Muội (Hương Sơn), Khe Táy, Đập Đá (Hương Khê), Hệ thốngkênh trục sông Nghèn; Nâng cấp công trình thuỷ nông Kẻ Gỗ, thuỷ lợi Sông Rác; Xử lý sạt ở bờ sông, bờ biển, nâng các tuyến đê biển, đê cửa sông...
Trên cơ sở quy hoạch chi tiết, sở Công nghiệp rà soát quy hoạch ngành, phối hợp với UBND các huyện, thị xã lập dự án đầu tư kết cấu hạ tầng và xây dựng cơ chế đầu tư, tài chính để thu hút đầu tư, hình thành một số cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tập trung và khôi phục làng nghề truyền thống: Cụm CN-TTCN Thị xã Hà Tĩnh, Cụm CN Hạ Vàng - Can Lộc, Cụm Công nghiệp Nam Hồng - Thị xã Hồng Lĩnh, Bắc cẩm Xuyên, Bắc Thị trấn Hương Khê, Phố Châu, Khu làng nghề Thái Yên - Đức Thọ và Khu làng nghể Trung Lương - Thị xã Hồng Lĩnh, làng nghề gạch lát cẩm Trang...
Chủ động làm việc với Bộ Công nghiệp, Tổng công ty thép và các cơ quan TW hoàn chỉnh và trình Chính phủ phê duyệt Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi Dự án khai thác mỏ sắt Thạch Khê, Dự án xây dựng Nhà máy luyện thép Vũng Áng và phê duyệt báo cáo khả thi vào năm 2006.
Phối họp với Tổng Công ty lắp máy Việt Nam hoàn chỉnh dự án và xúc tiến xây dựng Nhà máy nhiệt điện công suất 300-600 MW tại Vũng Áng; Đẩy nhanh tiến độ xây dựng Nhà máy que hàn Hà Tĩnh, Nhà máy Bia Toàn Cầu; Xúc tiến các dự án Nhà máy sản xuất cột điện mạ kẽm, các dự án thuỷ điện hồ Kẻ Gỗ, hồ Chúc A (Hương Khê), Thuỷ điện Khe Chè (Hương Sơn), Trại Dơi (Hương Khê); Dự án Nhà máy sản xuất Xi mãng...
Phối họp với Tổng công ty Rượu Bia - Nước giải khát Sài Gòn triển khai Dự án mở rộng Nhà máy bia đạt công suất 50 triệu lít/năm.
Phối họp với Điện Lực Hà Tĩnh quy hoạch nguồn và lưới điện đến năm
2010. Tổng công ty Khoáng sản và Thương mại hoàn chỉnh Dự án khả thi xây dựng Nhà máy chế biến Pigment trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt vào năm 2006; Phối họp với Tổng Công ty thép Việt Nam chuẩn bị các điều kiện để triển khai Dự án khai thác mỏ sắt Thạch Khê, triển khai Nhà máy nghiền và sản xuất tấm trần thạch cao; Phối hợp với Tổng cống ty Công nghiệp ô tô Việt Nam liên doanh xây dựng nhà máy sản xuất phụ tùng ô tô tại Hà Tĩnh... Đẩy nhanh tiến độ xây dựng Trung tâm Thương mại - Khách sạn và Văn phòng cho thuê tại Thị xã Hà Tĩnh để đưa vào sử dụng vào đầu năm 2006.
Sở Giao thông - Vận tải tham mưu cho UBND tỉnh, làm việc với Chính phủ và các Bộ ngành TW liên quan, tranh thủ các nguồn vốn đầu tư, xúc tiến triển khai quy hoạch và xây dựng các tuyến giao thông: Đường sắt nối cảng Vũng Áng với đường sắt Quốc gia; Đường bộ nối mỏ sắt Thạch Khê với cảng Vũng Áng; Đường nối Quốc lộ 1A với vùng mỏ, đường ven biển Xuân Hội đến cảng Vũng Áng; Đường ngang tránh lũ Thị xã Hà Tĩnh - Kẻ Gỗ - Hương Khê; Nâng cấp Quốc lộ 8A, 8B, Cầu Linh Cảm; Khởi công xây dựng cảng
Vũng Áng giai đoạn II trong quý III/2005; Triển khai quy hoạch và lập dự án cảng Dầu tại Vũng Áng; Đôn đốc Ban Quản lý dự án A85 đẩy nhanh tiến độ xây dựng đường 12.
Tập trung chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ xây dựng các tuyến đường nội thị thị xã Hà Tĩnh: đường tránh, đường bao, đường Phan Đình Phùng kéo dài, Tỉnh lộ 9... (khởi công vào Quý IV/2005 và hoàn thành trong năm 2006)
Lập dự án phát triển mạng lưới giao thông ven biển và một sô Cảng cửa sông nhằm tạo sự liên kết giữa các vùng: Nâng cấp và nối tuyến đường 22/12 với đường 19/5 thành tuyến đường ven biển và tuyến Thạch Hải - Khe Giao - Phúc Đồng; Nâng cấp các tuyến đường nối Quốc lộ 1A với các khu du lịch biển: Đường tỉnh lộ 10 xuống bãi tắm Kỳ Ninh, tỉnh lộ 4 vào khu du lịch Thiên Cầm, Tỉnh lộ 26 xuống bãi tắm Thạch Hải, Đường Nghèn - Thịnh Lộc (vào khu du lịch Chân Tiên), Đường du lịch Thiên Tượng - Suối Tiên; Xây dựng bến thuyền Thị xã Hà Tĩnh, bến Linh Cảm (Đức Thọ), bến Gia Lách (Nghi Xuân), bến Cày (Thạch Hà)...
Sở Xâv dựng chủ trì cùng chính quyền các địa phương và các cơ quan liên quan bổ sung, điều chỉnh quy hoạch xây dựng Thị xã Hà Tĩnh trở thành Thành phố thuộc tỉnh vào cuối năm 2006; Xây dựng Thị xã Hồng lĩnh trở thành trung tâm kinh tế phía Bắc. Ban hành quy chế và quản lý chặt chẽ việc xây dựng ở các đô thị, bảo đảm quy hoạch và vãn minh đô thị.
Hoàn chỉnh quy hoạch đường tránh Quốc lộ 1A, quy hoạch khu tái định cư tại Vũng Áng, Thạch Khê, Ngàn Trươi; Phối hợp với Sở Tài nguyên và Mồi trường đánh giá, xác định trữ lượng đá vôi trên địa bàn huyện Hương Khê.
Trên cơ sở quy hoạch chung, phối hợp với Sở Thương mại - Du lịch từng bước quy hoạch một số thị trấn, thị tứ với chức năng là khu du lịch, như: Thiên Cầm, Xuân Thành, Đèo Con, Nước Sốt và Chân Tiên... Triển khai thực hiện quy hoạch dân cư nông thôn, kết cấu hạ tầng theo hướng hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, (hoàn thành trong năm 2005).
Thúc đẩy tiến độ thực hiện các dự án: Nhà máy Đá ốp lát, Nhà máy Xi măng, Trung tâm nghiền phụ gia tại Vũng Áng...
Ban quản lý các KCN Hà Tĩnh (chủ đầu tư) khẩn trương triển khai quy hoạch Khu Công nghiệp - Dịch vụ Đô thị Nam Hà Tĩnh và khu tái định cư đồng thời xây dựng cơ chế tạo nguồn đầu tư kết cấu hạ tầng và công tác vận động thu hút đầu tư vào các Khu Công nghiệp, bảo đảm năm 2005 mở rộng Khu Công nghiệp Vũng Áng I thêm 200 ha; Triển khai xây dựng Khu Công nghiệp Gia Lách. (Hoàn thành trong quý IV/2005).
- Trong tháng 8/2005, tham mưu cho UBND tỉnh và chủ động làm việc với các cơ quan TW liên quan đề nghị bổ sung Khu Công nghiệp Gia Lách (300 ha), Nam Hồng Lĩnh (500 ha) vào quy hoạch hệ thống các Khu Côngnghiệp Việt Nam để được hưởng cơ chế hổ trợ thích hợp theo Quyết định 183 QĐ/TTg ngày 19/10/2004 của Thủ tướng Chính phủ. Phối hợp với Cảng Hà Tĩnh thực hiện Dự án cảng dầu; Dự thảo cơ chế chính sách Khu kinh tế Nam Hà Tĩnh gắn với Cảng biển Vũng Áng.
Sở Thương mại và Du lịch chủ trì cùng UBND các huyện, thị tham mưu cơ chế tạo vốn, chính sách thu hút các doanh nghiệp, doanh nhân đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng theo quy hoạch ở các khu du lịch biển (Xuân Thành, Suối Tiên, Chân Tiên, Thiên Cầm, Kỳ Ninh, Đèo Con...) và các Khu di tích ngã ba Đồng Lộc, Khu Lưu niệm Nguyễn Du, Khu du lịch Nước Sốt, Khu tượng đài và mộ Trần Phú. Xây dựng các Trung tâm Thương mại ở Thị xã Hà Tĩnh, Thị xã Hồng Lĩnh, thị trấn Tây Sơn, Khu đô thị Nam; Phối hợp với Sở Văn hoá Thông tin quy hoạch dự án xây dựng Khu du lịch - Vãn hoá Nguyễn Du... Rà soát bổ sung, điều chỉnh qui hoạch phát triển mạng lưới dịch vụ trên địa bàn Thị xã Hà Tĩnh, hệ thống chợ nông thôn. Tạo lập cơ chế đầu tư và tài chính xây dựng chợ Trung tâm ở một sô huyện. Đôn đốc triển khai Dự án Khu du lịch Thiên Cầm (Hoàn thành trong tháng 12/2005).
Sở Thuỷ sản chủ trì, xây dựng quy hoạch phát triển thủy sản, bao gồm quy hoạch các vùng nuôi trồng thuỷ sản tập trung, sản xuất giống, hệ thống dịch vụ hậu cần nghề cá (Xuân Phổ, Thạch Kim, cẩm Nhượng), chế biến thuỷ sản (Xây dựng cơ chế phát triển và bổ sung các nhà máy, các cơ sở chế biến thuỷ, hải sản); Xây dựng các Khu neo đậu tàu tránh bão (Cửa Hội, Cửa Sót, Cửa Nhượng). (Hoàn thành trong quý III/2005).
Sở Tài chính phối hợp cùng Sở Kế hoạch và Đầu tư, Trung tâm Xúc tiến đầu tư Hà Tĩnh bổ sung, hoàn thiện hệ thống cơ chế chính sách thu hút đầu tư trên địa bàn theo hướng đồng bộ, thông thoáng và ưu đãi theo tùng giai đoạn (Hoàn thành trong quý III/2005).
Chủ trì cùng với Sở Kế hoạch và Đầu tư lập kế hoạch vay vốn nhàn rỗi Kho bạc Nhà nước để thực hiện một số dự án trọng điểm nâng cấp Thị xã Hà Tĩnh lên đô thị loại HI; Chuẩn bị các nguồn vốn để thực hiện các dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh.
Uỷ ban nhân dân Thị xã Hà Tĩnh phối hợp với Sở Xây dựng, Sở Kế hoạch và Đầu tư đẩy nhanh tiến độ các dự án về quy hoạch và xây dựng kết cấu hạ tầng của Thị xã Hà Tĩnh, bao gồm: Quy hoạch chi tiết Khu đô thị Bắc, Khu đô thị đa chức năng nam Thị xã, Công viên Trung tâm Thị xã; Quy hoạch hệ thống giao thông. Tập trung triển khai các dự án: Xây dựng đường Trung tâm rộng 70 mét; Đường Nguyễn Du, Xuân Diệu, Nguyễn Huy Tự kéo dài và hạ tầng Khu dân cư tại Khu Đô thị Bắc; Cụm Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp Thạch Quý; Khu Công viên Trung Tâm; Cấp nước Thị xã giai đoạn II và thoát nước thị xã do ADB tài trợ; Hệ thống điện chiếu sáng đường 1A(đoạn qua Thị xã); Đường phía Tây Quốc lộ 1A (đường IB); Đường tránh Quốc lộ 1A (đoạn qua thị xã Hà Tĩnh); Đường nối quốc lộ 1A với mỏ sắt Thạch Khê; Kéo dài đường Phan Đình Phùng về phía Đông - Tây; Tỉnh lộ 9 từ Cồn Cồ đi Hộ Độ; Hạ tầng Khu dân cư 15 phường, xã; Khu tái định cư Thị xã Hà Tĩnh.
Sở Văn hoá - Thông tin phối hợp với các cơ quan chức năng tiến hành quy hoạch xây dựng Khu Lưu niệm Bác Hồ, Quy hoạch tổng thể Khu Văn hoá - Du lịch Nguyễn Du tại xã Tiên Điền (Nghi Xuân), đề xuất cơ chế huy động vốn thực hiện các dự án sau quy hoạch (hoàn thành trong quý IV/2005).
Phối hợp với UBND huyện cẩm Xuyên chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ xây dựng các công trình kỷ niệm 100 năm ngày sinh Cố Tổng Bí Thư Hà Huy Tập theo chủ trương của Ban Bí thư Trung ương (Thông báo số 170 TB/TW).
Trung tâm Xúc tiến đầu tư Hà Tĩnh trên cơ sở các văn bản thoả thuận hợp tác phát triển kinh tế, biên bản ghi nhớ, đăng ký đầu tư trong thời gian qua, phối hợp với chủ đầu tư hoàn thành các hồ sơ, thủ tục để đẩy nhanh tiến độ triển khai thực hiện các dự án; Xây dựng và cụ thể hoá chương trình, kế hoạch, chính sách vận động, thu hút các nguồn lực đầu tư về trên địa bàn, đặc biệt là doanh nghiệp, doanh nhân trong tỉnh, trong nước và nước ngoài. Trong đó, chú trọng các dự án đầu tư vào các Khu, Cụm Công nghiệp, hạ tầng đô thị, du lịch, các vùng sản xuất nguyên liệu tập trung... (Hoàn thành trong
Quý III/2005).
Uỷ ban nhân dân các huyện, thị xã chủ động rà soát, điều chỉnh quy hoạch, ưu tiên quy hoạch đô thị, các cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, quy hoạch sử dụng đất đồng thời xây dựng kế hoạch đầu tư cụ thể của địa phương đến năm 2010, giải pháp huy động và sử dụng vốn cho từng chương trình, dự án, xem xét các khả năng hiện thực, xác định cơ cấu kinh tế theo hướng phát huy tiềm năng lợi thế của từng địa phương gắn sản xuất với tiêu thụ sản phẩm và bảo đảm phát triển bền vững.
Đẩy mạnh các hoạt động văn hoá - xã hội.
Sở Văn hoá - Thông tin xây dựng kế hoạch nâng cao chất lượng xây dựng làng xã văn hoá, đơn vị văn hoá, gia đình văn hoá gắn với đầu tư hoàn thiện hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở, phấn đấu đến năm 2010, 100% các huyện, thị xã có Nhà Vãn hoá, thể thao thư viện, 100% số xã có hệ thống truyền thanh, hơn 90% số dân được xem truyền hình; Tăng cường các hoạt động quản lý văn hoá; Xây dựng Đề án tổng thể nâng cấp, bảo tồn và quản lý các di tích lịch sử, văn hoá gắn với khai thác tiềm năng du lịch; Cụ thể hoá kế hoạch khôi phục, phát triển các giá trị văn hoá phi vật thể.
Sở Giáo dục - Đào tạo xây dựng kế hoạch cụ thể nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, giữ vững thành quả phổ cập giáo dục Tiểu học vàđổi mới Trung học Cơ sở; Triển khai thực hiện Đề án phổ cập giáo dục Trung học Phổ thông. Phấn đấu đến năm 2010, 100% Trường Tiểu học và Trung học cơ sở, 50% Trường Trung học Phổ thông đạt chuẩn Quốc gia; 100% phòng học bảo đảm kiên cố; 100% giáo viên các cấp đạt chuẩn và trên chuẩn. Xây dựng Trung tâm giáo dục thường xuyên tỉnh, Trường THPT Năng khiếu tỉnh; Phối hợp xây dựng kế hoạch nâng các trường: Trung học Kinh tế, Trung học Y tế thành trường Cao đẳng; Nâng cấp Trường Chính trị Trần Phú.
Phối hợp với Phân hiệu Đại học Vinh và các cơ quan liên quan xây dựng lộ trình hình thành Trường Đại học Đa ngành ở Hà Tĩnh trên cơ sở phân hiệu Đại học Vinh và Trường cao đẳng Sư phạm Hà Tĩnh. (Trình UBND tỉnh trong Quý IV/2005).
Sở Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì, xây dựng kế hoạch nâng
cấp trường Dạy Nghề Việt Đức thành trường Cao đẳng; Đẩy nhanh tiến độ thực hiện Dự án Trường Kỹ Nghệ Hà Tĩnh; Xây dựng Trung tâm dạy nghề, giới thiệu việc làm và phục hồi chức năng cho người tàn tật. Xây dựng kế hoạch cụ thể triển khai xoá đói giảm nghèo bền vững giai đoạn 2006 - 2010, phấn đấu giảm tỷ lệ hộ nghèo trên 4%/năm (theo chuẩn mới). Xây dựng và triển khai phương án chuyển dịch cơ cấu và cân đối nhu cầu lao động ngay trên từng địa bàn, phấn đấu mỗi năm giải quyết việc làm cho khoảng 3 vạn lao động.
Xây dựng quy hoạch hệ thống trường dạy nghề theo hướng mở rộng quy mô nhằm đáp ứng nhu cầu lao động kỹ thuật cho xuất khẩu lao động và phục vụ các khu công nghiệp trong tỉnh. Thực hiện cơ chế khuyến khích các cơ sở, doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân tham gia đào tạo nghề đến năm 2010 tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt trên 35%.
Sở Y tế chủ trì cùng các cơ quan liên quan xây dựng phương án và triển khai kế hoạch nâng cấp Bệnh viện Đa khoa tỉnh phù hợp với Đô thị loại III; Quy hoạch xây dựng Bệnh viện Kỳ Anh với Quy mô 250 giường bệnh vào năm 2010; các phòng khám đa khoa Thạch Khê và Kỳ Long phục vụ cho vùng mỏ và Khu Liên hợp luyện thép. Đầu tư nâng cấp Trung tâm y tế Thị xã Hồng Lĩnh thành bệnh viện khu vực phía Bắc. Tập trung hoàn thành xây dựng Bệnh viện Lao - Phổi; Xây dựng Bệnh viện Y học Dân tộc tỉnh tại địa điểm mới, từng bước nâng cấp các bệnh viện tuyến huyện. Triển khai kế hoạch đưa bác sỹ về cơ sở, phấn đấu đến năm 2010, 100% Trạm Y tế xã có bác sĩ. Triển khai dự án nâng cấp Trường Trung cấp Y tế thành Trường Cao đẳng.
uỷ ban Dân số - Gia đình và Trẻ em đầu tư mở rộng các dịch vụ dân số, phấn đấu đến năm 2010 tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên đạt 0,7%; Xây dựng chương trình nâng cao chất lượng dân số theo mô hình gia đình ít con,khoẻ mạnh, phấn đấu nâng chỉ số phát triển con người lên mức khá của cả nước. Giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi SDD xuống dưới 20%.
Sở Ngoại vụ phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư xây dựng Đề án mở rộng quan hệ đối ngoại, tìm kiếm đối tác hợp tác phát triển trên các lĩnh vực, đặc biệt là thu hút các nguồn vốn ODA và các tổ chức Phi Chính phủ phục vụ đắc lực cho phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn.
Sở Bưu chính - Viễn thông chủ trì xây dựng các chương trình, dự án ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin đến năm 2010, chiến lược đến 2020; đồng thời phối hợp với Bưu điện tỉnh và các doanh nghiệp viễn thông xây đựng Đề án phát triển cơ sở hạ tầng mạng lưới thông tin của tỉnh theo hướng hiện đại, bảo đảm thông tin thông suốt, thực hiện phổ cập các dịch vụ bưu chính viễn thông chất lượng cao; Cáp quang hoá mạng truyền dẫn cấp n, đảm bảo 100% huyện thị trên địa bàn có cáp quang và phủ sóng thông tin di động, phấn đấu đến năm 2010 đạt mật độ 16,5 máy điện thoại/100 dân.
Sở Khoa học và Công nghệ tiếp tục thực hiện các chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp nhà nước, các chương trình phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu và công nghệ tự động hoá phục vụ yêu cầu phát triển nông nghiệp và nông thôn, đặc biệt là việc áp dụng công nghệ tiên tiến trong công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản, trong sản xuất giống cây, giống con có năng suất, chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu về giống trên địa bàn.
Bảo đảm Quốc phòng - An ninh giữ vững ổn định chính trị.
Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh cùng với Công an tỉnh chủ trì, xây dựng Đề án phối hợp chặt giữa các lực lượng Công an, Quân sự, Biên phòng và giữa lực lượng vũ trang với các cấp, các ngành, các tổ chức quần chúng nhằm phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân, thực hiện tốt chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Triển khai các kế hoạch nắm và dự báo tình hình và các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, đảm bảo an ninh quốc gia trên tuyến biên giới. Tiếp tục đẩy mạnh Chương trình Quốc gia phòng chống tội phạm nhằm kiềm chế, làm giảm trọng án; Triển khai mạnh mẽ Đề án phòng chống tai nạn giao thông, tệ nạn ma tuý trên từng địa bàn, cụm dân cư.
Chỉ đạo thực hiện tốt việc kết hợp kinh tế với Quốc phòng - An ninh. Tiếp tục đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ nhu cầu quốc phòng, an ninh và phát triển dân sinh trên vùng biên giới. Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh chủ trì lập dự án đầu tư Khu kinh tế Quốc phòng khu vực Rào Mắc tuyến biên giới huyện Hương Sơn.
Các giải pháp chủ yếu:
Bổ sung, điều chỉnh qui hoạch phát triển của tỉnh, ngành, huyện và các vùng trọng điểm, các khu đô thị mới:
Trên cơ sở mục tiêu, nhiệm vụ và các chương trình đã xác định, tiến hành rà soát, bổ sung xây dựng quy hoạch tổng thể từng vùng, từng chương trình của từng ngành, huyện, thị xã từ nay đến năm 2010 (có dự báo đến năm 2020) dựa trên lợi thế so sánh của vùng nhằm phát huy lợi thế tối đa của mỗi địa phương, mỗi ngành, phấn đấu đến năm 2010 Hà Tĩnh đạt được các mục tiêu đề ra.
Huy động nguồn vốn đầu tư phát triển:
Cùng với cơ chế huy động nguồn lực tại chỗ từ nhân dân và các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trên địa bàn tỉnh, tranh thủ tối đa các nguồn lực từ Trung ương và các tổ chức quốc tế tham gia phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn, đặc biệt là đầu tư cho kết cấu hạ tầng như: Giao thông, thuỷ lợi, cảng biển, đô thị, phục vụ khai thác mỏ sắt Thach Khê và xây dựng Nhà máy luyện thép, đưa Thị xã Hà Tĩnh lên đô thị loại III, Khu kinh tế Công nghiệp - Dịch vụ và Đô thị Nam Hà Tĩnh và các dự án trọng điểm khác... cụ thể theo các kênh huy động như sau:
Nguồn ngân sách vượt thu của địa phương ngoài việc dành 50% chi thường xuyên, dành 50% trả nợ vốn vay xây dựng hạ tầng.
Tạo nguồn thu từ Quỹ đất để chi cho đầu tư phát triển.
Tạo nguồn thu từ xổ số kiến thiết để chi cho đầu tư phát triển (trên cơ sở tổ chức lại công ty xổ sô kiến thiết Hà Tĩnh để đảm bảo hoạt động có hiệu quả).
Xúc tiến đầu tư, áp dụng các hình thức đầu tư BT, BOT và BTO đối với đầu tư trong nước và nước ngoài.
Tranh thủ các nguồn vốn đầu tư của Nhà nước: Ngân sách tập trung; Ngân sách hỗ trợ theo chương trình có mục tiêu của Chính phủ; Vốn trái phiếu Chính phủ (trái phiếu đầu tư, trái phiếu công trình); Vay vốn ngân sách trung ương; Vốn tín dụng, vốn ODA và các nguồn viện trợ không hoàn lại...
Đẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường kỷ cương và hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước trên các lĩnh vực.
Thành lập Trung tâm xúc tiến đầu tư, kiện toàn bộ máy và ban hành quy chế hoạt động; Hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài đầu tư vào Hà Tĩnh.
Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh theo hướng khoa học, thông thoáng; Kiện toàn tổ chức bộ máy cơ quan hành chính theo hướng tinh gọn, hiệu quả; Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính theo mô hình “một cửa”, đổi mới công tác chỉ đạo điều hành trong cơ quan quản lý nhà nước, cải tiến phong cách, lề lối làm việc, thực hiện phân công, phân cấp đối với các
Sở, Ngành, Đơn vị, thực hiện nghiêm kỷ luật hành chính ở tất cả các cấp, các ngành.
Phát triển nguồn nhân lực cho CNH-HĐH: Chăm lo công tác đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ trẻ, cán bộ khoa học kỹ thuật, tạo bước chuyển biến về chất trong phát huy nguồn lực con người; thực hiện tốt chính sách thu hút nhân tài đã ban hành. Tiếp tục đào tạo, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ các ngành, các cấp, cơ sở và doanh nghiệp. Nâng cấp các trường dạy nghề: Nông, Lâm, Ngư; dạy nghề tiểu thủ công nghiệp; dạy nghề phục vụ khai thác mỏ và cơ khí luyện kim. Chuẩn bị điều kiện để hình thành Trường Đại học Hà Tĩnh.
Đẩy nhanh việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 3, Trung ương 5, Trung ương 9 nhẳm thúc đẩy các thành phần kinh tế phát triển nhanh, hiệu quả. Xây dựng chính sách, biện pháp tạo động lực kinh tế cho mọi tầng lóp dân cư phát triển, tạo thị trường vốn năng động trên địa bàn. Đẩy nhanh việc sắp xếp, đổi mới, cổ phần hoá nhằm nâng cao hiệu quả, năng lực cạnh tranh và khả năng hội nhập của doanh nghiệp Nhà nước. Tạo điều kiện để các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tích cực tham gia đầu tư trên địa bàn tỉnh.
C. TỔ CHỨC TRIỂN KHAI THỰC HIỆN
Căn cứ vào Chương trình hành động của UBND tỉnh, các Sở, Ngành và UBND các huyện, thị xã căn cứ chức năng, nhiệm vụ của ngành mình, địa phương mình, trên cơ sở các chương trình, mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể liên quan đến đơn vị mình, chủ động xây dựng phương án, đề án, kế hoạch thực hiện đảm bảo hoàn thành từ nay đến năm
Các cơ quan, đơn vị được UBND tỉnh giao chủ trì xây dựng các đề án, dự án chủ động làm việc với các Bộ, Ngành TW, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan liên quan tổ chức nghiên cứu, xây dựng và báo cáo kết quả, các khó khăn vướng mắc và cơ chế tháo gỡ tại các phiên họp thường kỳ và đột xuất của UBND tỉnh trong năm 2005.
Giám đốc các Sở, Thủ trưởng các Ban, Ngành, Chủ tịch UBND các huyện, thị xã chịu trách nhiệm trực tiếp trước UBND tỉnh trong việc tập trung chỉ đạo triển khai, kiểm tra đôn đốc việc thực hiện các nhiệm vụ được phân công và báo cáo UBND tỉnh tình hình, kết quả thực hiện Chương trình này. Văn phòng UBND tỉnh cử bộ phận theo dõi, đôn đốc và chịu trách nhiệm tổng hợp tình hình báo cáo Thường trực UBND tỉnh trong các cuộc họp giao ban sáng thứ hai hàng tuần./.