|
UBND TỈNH NGHỆ AN Số: 107/2005/QĐ-UBND |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------------------- tỉnh Nghệ An, ngày 26 tháng 12 năm 2005 |
QUYẾT ĐỊNH
Về việc ban hành Quy định về phân công, phân cấp và quản lý điều hành ngân sách năm 2006
_______________
UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
Căn cứ Luật tổ chức HĐND và UBND ngày 26/11/2003;
Căn cứ Luật Ngân sách Nhà nước (sửa đổi) số 01/2002/QH11 ngày 16/12/2002; Nghị định 60/NĐ-CP ngày 6/6/2003 của Chính phủ; Quyết định số 1194/2005/QĐ-TTg ngày 09/11/2005 của Thủ tướng Chính phủ về giao dự toán ngân sách Nhà nước năm 2006; và các chế độ chính sách quản lý tài chính ngân sách khác của nhà nước;
Căn cứ Nghị quyết số 132/2005/NQ.HĐND-XV ngày 26/12/2005 của kỳ họp thứ sáu HĐND tỉnh khóa XV về dự toán và phân bổ dự toán NSNN năm 2006;
Xét đề nghị của Giám đốc Sở Tài chính,
QUYẾT ĐỊNH
Điều 1. Ban hành kèm theo quyết định này bản Quy định về phân công, phân cấp và quản lý điều hành ngân sách năm 2006.
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2006. Các quy định trước đây trái với quyết định này đều bãi bỏ.
Điều3. Các ông: Chánh văn phòng UBND tỉnh, giám đốc các Sở, Thủ trưởng các Ban, ngành cấp tỉnh, Chủ tịch UBND các huyện, thành phố, thị xã, Thủ trưởng các đơn vị liên quan chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.
TM. UỶ BAN NHÂN DÂN
CHỦ TỊCH
(Đã ký)
Phan Đình Trạc
UỶ BAN NHÂN DÂN
TỈNH NGHỆ AN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Số: 107/2005/QĐ-UB
Vinh, ngày 26 tháng 12 năm 2005
QUY ĐỊNH
Về phân công, phân cấp và quản lý điều hành ngân sách năm 2006
(Ban hành kèm theo Quyết định số 107/2005/QĐ-UBND ngày 26 tháng 12 năm 2005 của UBND tỉnh Nghệ An)
Chương I
PHÂN CẤP THU NGÂN SÁCH VÀCƠCHẾ ĐIỀU HÀNH THU NGÂN SÁCH
I- THU NGÂN SÁCH VÀ TỶ LỆ ĐIỂU TIẾT CÁC KHOẢN THU NGÂN SÁCH
Điều 1. Phân cấp các khoản thu đối với từng cấp ngân sách
1. Các khoản thu 100% của các cấp ngân sách:
a) Đối với ngân sách Trung ương:
- Thuế giá trị gia tăng hàng hóa nhập khẩu;
- Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
- Thuế tiêu thụ đặc biệt hàng hóa nhập khẩu;
- Thuế thu nhập doanh nghiệp của các đơn vị hạch toán toàn ngành.
- Phần nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật từ các khoản phí và lệ phí do các cơ quan, đơn vị thuộc trung ương tổ chức thu, không kể phí xăng, dầu và lệ phí trước bạ;
- Phần nộp ngân sách theo quy định của pháp luật từ các khoản thu sự nghiệp của các đơn vị do các cơ quan trung ương trực tiếp quản lý;
- Các khoản phạt, tịch thu và thu khác của ngân sách trung ương theo quy định của pháp luật.
b) Đối với Ngân sách tỉnh:
- Thu từ khu vực DNNN, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Công ty cổ phần (Các công ty chuyển đổi từ DNNN sang hình thức cổ phần), gồm: thuế giá trị gia tăng (không kể thuế giá trị gia tăng hàng nhập khẩu), thuế thu nhập doanh nghiệp (không kể thuế thu nhập của các đơn vị hạch toán toàn ngành), thuế TTĐB thu từ dịch vụ hàng hóa sản xuất trong nước, thuế môn bài, thu khác;
- Thuế tài nguyên;
- Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao;
- Phí xăng, dầu;
- Tiền cho thuê và tiền bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước;
- Tiền thuê đất, mặt nước đối với các doanh nghiệp, kể cả doanh nghiệp có 100% vốn nước ngoài;
- Tiền bồi thường thiệt hại đất;
- Thu từ hoạt động xổ số kiến thiết;
- Thu nhập từ vốn góp của ngân sách tỉnh, tiền thu hồi vốn của ngân sách tỉnh tại các cơ sở kinh tế, thu thanh lý tài sản và các khoản thu khác của doanh nghiệp nhà nước do tỉnh quản lý; thu từ Quỹ dự trữ tài chính của cấp tỉnh theo quy định tại Điều 58 của Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 6/6/2003 của Chính phủ;
- Thu quảng cáo phát thanh truyền hình;
- Các khoản phí, lệ phí nộp vào ngân sách cấp tỉnh theo quy định;
- Thuế sử dụng đất nông nghiệp (bao gồm cả số tồn đọng) của các doanh nghiệp, nông lâm trường trạm trại, HTX sản xuất nông nghiệp...
- Viện trợ không hoàn lại bằng tiền, bằng hiện vật của các tổ chức, cá nhân ỏ nước ngoài trực tiếp cho cấp tỉnh theo quy định của pháp luật;
- Huy động từ các tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật;
- Đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước cho ngân sách cấp tỉnh;
- Thu sự nghiệp của các đơn vị do cấp tỉnh quản lý;
- Thu từ huy động đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng theo quy định tại Khoản 3 Điều 8 của Luật ngân sách nhà nước;
- Thu từ các khoản tiền phạt, tịch thu theo quy định của pháp luật;
- Thu kết dư ngân sách cấp tỉnh;
- Các khoản thu khác của ngân sách cấp tỉnh theo quy định của pháp luật;
- Thu bổ sung từ ngân sách Trung ương;
- Thu chuyển nguồn ngân sách từ ngân sách cấp tỉnh năm trước chuyển sang.
c) Đối với Ngân sách huyện, thành phố, thị xã:
-Thuế môn bài của CTN - Dịch vụ ngoài quốc doanh (trừ thuế môn bài thu từ cá nhân và hộ kinh doanh);
- Thuế tiêu thụ đặc biệt thu từ dịch vụ, hàng hóa sản xuất trong nước của công thương nghiệp - dịch vụ ngoài quốc doanh;
- Các khoản phí và lệ phí từ các hoạt động do các cơ quan thuộc cấp huyện quản lý (bao gồm cả các đơn vị y tế, giáo dục - đào tạo thuộc cấp huyện quản lý);
- Tiền thu từ các hoạt động sự nghiệp của các đơn vị do cấp huyện quản lý;
- Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài trực tiếp cho cấp huyện theo quy định của pháp luật;
- Đóng góp của các tổ chức, cá nhân để đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng theo quy định của Chính phủ;
- Đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân ở trong và ngoài nước cho ngân sách cấp huyện;
- Thu kết dư ngân sách cấp huyện;
- Thu bổ sung từ ngân sách cấp trên;
- Thu chuyển nguồn ngân sách từ ngân sách cấp huyện năm trước chuyển sang;
- Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật.
d) Đối với ngân sách xã, phường, thị trấn:
- Thu từ kinh doanh vận tải tư nhân, xây dựng nhà ở tư nhân, trông giữ xe (trừ các đơn vị sự nghiệp có thu được giao tự chủ tài chính theo Nghị định 10), cho thuê nhà, đất của hộ gia đình và các dịch vụ tổ chức dạy thêm;
- Thuế sử dụng đất nông nghiệp thu từ hộ gia đình;
- Các khoản phí, lệ phí và các khoản đóng góp cho ngân sách xã, phường, thị trấn theo quy định của pháp luật;
- Thu từ sử dụng quỹ đất công ích và thu hoa lợi công sản khác;
- Thu từ hoạt động sự nghiệp do xã, phường, thị trấn quản lý;
- Các khoản đóng góp tự nguyện cho xã, phường, thị trấn;
- Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức và cá nhân ở nước ngoài trực tiếp cho xã, phường, thị trấn theo quy định của pháp luật;
- Thu kết dư của ngân sách xã, phường, thị trấn;
- Thu bổ sung từ ngân sách cấp trên;
- Thu chuyển nguồn ngân sách từ ngân sách cấp xã năm trước chuyển sang;
- Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật.
Ngoài các khoản thu theo quy định Khoản 4 Điều 1, chính quyền xã, phường, thị trấn còn được huy động sự đóng góp của các tổ chức, cá nhân để đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng của xã, phường, thị trấn trên nguyên tắc tự nguyện theo phương án được HĐND xã, phường, thị trấn phê duyệt. Việc quản lý các khoản đóng góp này phải công khai, có kiểm tra, kiểm soát và đảm bảo sử dụng đúng mục đích, đúng chế độ theo quy định của pháp luật.
2. Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa ngân sách tỉnh, ngân sách huyện, thành phố, thị xã và ngân sách xã, phường, thị trấn:
- Thuế chuyển quyền sử dụng đất, thuế nhà, đất, lệ phí trước bạ nhà đất, thuế môn bài thu từ cá nhân, hộ kinh doanh:
+ Ngân sách tỉnh: 0%
+ Ngân sách huyện, thành phố, thị xã: 30%
+ Ngân sách xã, phường, thị trấn: 70%
Thuế giá trị gia tăng (trừ thuế giá trị gia tăng thu từ hoạt động kinh doanh vận tải tư nhân, xây dựng nhà ở tư nhân), thuế thu nhập doanh nghiệp và thu khác của công thương nghiệp - dịch vụ ngoài quốc doanh:
+ Thành phố Vinh: ngân sách thành phố 95%, ngân sách xã, phường 5%,
+ Thị xã Cửa Lò, Quỳnh Lưu, Quỳ Hợp: Ngân sách thị xã, ngân sách huyện 90%; ngân sách xã, phường, thị trấn 10%.
+ Các huyện còn lại: ngân sách huyện 80%; Ngân sách xã, thị trấn 20%.
Giao Sở Tài chính chủ trì phối hợp với Kho bạc nhà nước tỉnh hướng dẫn cụ thể tỷ lệ điều tiết các khoản thu cho các cấp ngân sách.
Điều 2. Tiền cấp quyền sử dụng đất
Nhằm tạo nguồn vốn đền bù giải phóng mặt bằng các dự án, đồng thời khuyến khích các huyện, thành, thị, phường, xã, thị trấn tập trung chỉ đạo thu tiền cấp quyền sử dụng đất trên địa bàn để đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, tiền cấp quyền sử dụng đất (áp dụng cả đất giao qua đấu giá và không qua đấu giá) được phân phối như sau:
- Ngân sách tỉnh 20% để chi Quỹ địa chính và quy hoạch đô thị, sự nghiệp môi trường - tài nguyên; chi đền bù giải phóng mặt bằng, chi hỗ trợ người có đất bị thu hồi (đào tạo, giải quyết việc làm...) bổ sung nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản.
- Ngân sách huyện, thành phố 40% (riêng ngân sách thị xã Cửa Lò 60%) để chi đền bù giải phóng mặt bằng, chi hỗ trợ người có đất bị thu hồi (đào tạo, giải quyết việc làm,...) bổ sung nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản.
- Ngân sách xã, phường, thị trấn 40% (riêng ngân sách xã, phường thuộc thị xã Cửa Lò 20%) để chi đền bù giải phóng mặt bằng, chi hỗ trợ người có đất bị thu hồi (đào tạo, giải quyết việc làm...), bổ sung nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản.
Những lô đất tỉnh quy hoạch để giao hoặc cho thuê (qua đấu giá và không qua đấu giá) tạo nguồn vốn đầu tư, xây dựng những công trình quan trọng của tỉnh thì điều tiết ngân sách tỉnh 80% - trong đó 10% chi cho công tác quy hoạch đô thị và công tác địa chính; ngân sách huyện, thành, thị 10%; ngân sách xã, phường, thị trấn 10%. Các trường hợp khác điều tiết theo quyết định riêng của UBND tỉnh.
II- CƠ CHẾ QUẢN LÝ, ĐIỂU HÀNH THU NGÂN SÁCH
Điều 3. Giao dự toán thu ngân sách
Căn cứ vào dự toán thu Ngân sách đã được HĐND tỉnh phê chuẩn và quyết định phân bổ dự toán ngân sách của UBND tỉnh, Sở Tài chính chủ trì cùng với Cục thuế và ngành chủ quản phân bổ dự toán thu ngân sách chi tiết cho từng đơn vị, trình Chủ tịch UBND tỉnh quyết định giao nhiệm vụ thu ngân sách.
Điều 4. Quản lý thu ngân sách
1. Sau khi giao dự toán thu, ngành Thuế chủ trì phối hợp với các ngành chức năng tổ chức triển khai nhiệm vụ thu ngân sách và chống thất thu thuế. Giám đốc các Sở, Thủ trưởng các ban, ngành cấp tỉnh và Chủ tịch UBND các huyện, thành phố, thị xã có trách nhiệm tổ chức thực hiện tốt Quyết định số 1582/QĐ-UB.TM ngày 2/5/2003 của Chủ tịch UBND tỉnh về việc phê duyệt đề án “Những giải pháp phát triển nguồn thu và chống thất thu ngân sách trên địa bàn Nghệ An”, Chỉ thị số 21/2005/CT-UBND ngày 17/5/2005 của Chủ tịch UBND tỉnh về các biện pháp xử lý nợ đọng và chống thất thu ngân sách và các chế độ, chính sách khác có liên quan.
2. Các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí phải sử dụng biên lai thu do ngành Thuế quản lý. Đối với những khoản thu ngoài thuế phải sử dụng biên lai do Bộ Tài chính quy định tại Quyết định số 141/2001/QĐ-BTC ngày 21/12/2001.
Việc quản lý thu, sử dụng phí và lệ phí thực hiện theo Thông tư số 63/2002/TT-BTC ngày 24/7/2002 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 57/2002/NĐ-CP ngày 3/6/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh phí và lệ phí và các văn bản hướng dẫn khác. Giao Sở Tài chính chủ trì phối hợp với Cục Thuế tỉnh và các ngành có liên quan rà soát lại danh mục phí, lệ phí trên địa bàn, tham mưu cho HĐND và UBND tỉnh ban hành danh mục phí, lệ phí mới theo đúng quy định hiện hành của Nhà nước.
3. Đối với các khoản thu sự nghiệp: Thực hiện theo quy định tại Thông tư số 25/2002/TT-BTC ngày 21/3/2002 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 10/2002/NĐ-CP ngày 16/1/2002 của Chính phủ về cơ chế quản lý tài chính áp dụng cho đơn vị sự nghiệp có thu. Các khoản điều hòa học phí, điều hòa viện phí giao sở chủ quản tham mưu, Sở Tài chính thẩm định trình UBND tỉnh xem xét, quyết định.
4. Các cơ quan được giao nhiệm vụ thu, đặc biệt là cơ quan Thuế, Cục Hải quan tỉnh, phải thường xuyên phối hợp chặt chẽ với Kho bạc nhà nước tổ chức quản lý, tập trung nguồn thu vào NSNN, thực hiện công tác kiểm tra, đối chiếu đảm bảo mọi nguồn thu ngân sách phải được tập trung đầy đủ, kịp thời vào quỹ NSNN theo đúng Thông tư số 80/2003/TT-BTC ngày 13/8/2003 của Bộ Tài chính.
Các ngành, các cấp, các doanh nghiệp cần có kế hoạch và biện pháp phấn đấu tăng thu ngân sách và phải thực hiện ngay từ những tháng đầu, quý đầu.
Các doanh nghiệp phải nộp ngân sách kịp thời theo số phát sinh thực tế, tuyệt đối không được để tồn đọng các khoản phải nộp ngân sách.
Ngành thuế phải cải tiến công tác thu, đơn giản hóa các thủ tục về thu nộp và tính thuế. Tập trung chỉ đạo việc kê khai, tính thuế, kiểm tra đối với hộ kinh doanh buôn bán vừa và lớn, chống thất thu. Thực hiện ổn định và công khai mức khoán thuế từ 6 tháng đến 1 năm đối với các hộ kinh doanh buôn bán nhỏ để họ yên tâm sản xuất kinh doanh. Mở rộng hình thức tự khê khai, tính thuế, xác định đóng thuế là quyền lợi và nghĩa vụ của người sản xuất kinh doanh.
Tổ chức giám sát hoạt động sản xuất kinh doanh của các DNNN trên địa bàn, tăng cường kiểm tra và đôn đốc thu nộp thuế theo sát kết quả sản xuất kinh doanh, kiểm tra chặt chẽ công tác kế toán, các hóa đơn bán hàng hay cung cấp lao vụ để loại trừ chi phí bất hợp lý ra khỏi giá thành và phí lưu thông nhằm tăng thu cho ngân sách.
Tăng cường quản lý các Công ty cổ phần, Công ty TNHH, Doanh nghiệp tư nhân, có biện pháp xử lý nghiêm đối với những đơn vị có đăng ký kinh doanh nhưng không đăng ký kê khai nộp thuế với cơ quan thuế; kiểm tra để truy thu thuế, phạt trốn lậu thuế hoặc dây dưa không nộp thuế, rút giấy phép kinh doanh.
5. Giao Sở Tài chính chủ trì phối hợp với Cục thuế xem xét, đề xuất giao ủy nhiệm một số khoản thu cho chính quyền cấp xã.
6. Các khoản thu đã phân cấp cho ngân sách cấp nào thì phần thu vượt ngân sách cấp đó được hưởng theo tỷ lệ điều tiết cho ngân sách cấp đó và được sử dụng theo quy định hiện hành.
Điều 5. Các khoản huy động đóng góp của nhân dân
1. Tất cả các khoản huy động, quyên góp, đóng góp chỉ được thực hiện theo quy định của nhà nước và phải được cấp có thẩm quyền cho phép bằng văn bản, ngoài ra không được huy động dưới bất cứ hình thức nào. Nếu cấp nào, cơ quan, cá nhân nào quyết định và thực hiện thu không đúng thẩm quyền sẽ bị xử lý theo pháp luật.
2. Các khoản thu đóng góp của nhân dân để xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; các khoản đóng góp xây dựng trường của học sinh phải sử dụng biên lai thu tiền do Sở Tài chính phát hành theo quy định tại Quyết định 94/2005/QĐ-BTC ngày 12/12/2005 của Bộ Tài chính về việc ban hành chế độ kế toán ngân sách và tài chính xã. Việc tổ chức huy động, quản lý và sử dụng các khoản đóng góp tự nguyện của nhân dân để xây dựng cơ sở hạ tầng của các xã, phường, thị trấn thực hiện theo Nghị định số 24/1999/NĐ-CP ngày 16/4/1999 của Chỉnh phủ. Quá trình huy động đóng góp của nhân dân để đầu tư xây dựng công trình cơ sở hạ tầng tại xã, phường, thị trấn phải được công khai là tài chính theo quyết định số 192/2004/QĐ-TTg ngày 16/11/2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế công khai tài chính đối với các cấp ngân sách nhà nước. Thông tư số 19/2005/TT-BTC ngày 11/3/2005 của Bộ Tài chính hướng dẫn công khai tài chính đối với các quỹ có nguồn gốc từ ngân sách và các quỹ có nguồn gốc từ các khoản đóng góp của nhân dân, các đơn vị dự toán ngân sách, các tổ chức được ngân sách nhà nước hỗ trợ, các dự án đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng vốn ngân sách nhà nước, các doanh nghiệp nhà nước, các quỹ có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước và các khoản đóng góp của nhân dân.
3. Đối với các quỹ thực hiện theo các văn bản hướng dẫn hiện hành. Cụ thể:
- Quỹ lao động công ích thực hiện theo Quyết định số 22/2004/QĐ-UB ngày 15/3/2004 UBND tỉnh.
(Tài khoản của quỹ ở tỉnh 942 9000 00 205 tại Kho bạc nhà nước tỉnh).
- Quỹ bảo trợ trẻ em thực hiện theo Quyết định số 96/2004/QĐ-UB ngày 13/9/2004 của UBND tỉnh v/v quy định thu nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo trợ trẻ em.
- Quỹ phòng chống lụt bão: thực hiện theo Quyết định số 65/2004/QĐ-UB ngày 14/6/2004 của UBND tỉnh v/v ban hành chế độ nộp thu nộp, quản lý và sử dụng Quỹ phòng chống bão lụt trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
(Tài khoản của quỹ ở tỉnh 946 05 02 00 205 tại Kho bạc nhà nước tỉnh).
- Quỹ đền ơn đáp nghĩa thực hiện theo Quyết định số 25/2004/QĐ-UB ngày 25/3/2004 của UBND tỉnh v/v quản lý và sử dụng quỹ “Đền ơn đáp nghĩa”.
- Quỹ An ninh - Quốc phòng thực hiện theo Quyết định số 50/2004/QĐ-UB ngày 19/5/2004 của UBND tỉnh và Quyết định số 61/2004/QĐ-UB ngày 03/6/2004 của UBND tỉnh v/v sửa đổi Điều 3 quyết định số 50/2004/QĐ-UB.
- Quỹ phòng chống ma tuý thực hiện theo Quyết định số 21/2004/QĐ-UB ngày 12/3/2004 của UBND tỉnh Nghệ An.
Điều 6. Trách nhiệm của các cấp, các ngành
Giám đốc các Sở, Thủ trưởng các Ban, Ngành cấp tỉnh; chủ tịch UBND các huyện, thành phố, thị xã; Chủ tịch các phường, xã, thị trấn; Giám đốc các Doanh nghiệp và mọi công dân phải thường xuyên chăm lo việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước phấn đấu hoàn thành chỉ tiêu thu ngân sách là một trong những tiêu chuẩn để bình xét thi đua, khen thưởng.
Chương II
PHÂN CẤP CHI NGÂN SÁCH VÀ CƠCHẾ ĐIỀU HÀNH CHI NGÂN SÁCH
I -PHÂN CẤP CHI NGÂN SÁCH
Điều 7. Nhiệm vụ chi của ngân sách cấp tỉnh
1. Chiđầutư phát triển:
- Đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không có khả năng thu hồi vốn do cấp tỉnh quản lý;
- Đầu tư và hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, các tổ chức tài chính của Nhà nước theo quy định của pháp luật;
- Phần chi đầu tư phát triển trong các chương trình mục tiêu quốc gia do Chính phủ giao cho tỉnh quản lý;
- Các khoản chi đầu tư phát triển khác theo quy định của pháp luật;
2. Chi thường xuyên:
- Các hoạt động sự nghiệp kinh tế, giáo dục, đào tạo, dạy nghề, y tế, xã hội, văn hóa thông tin, phát thanh truyền hình, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, môi trường, các sự nghiệp khác do cơ quan cấp tỉnh quản lý;
- Các hoạt động sự nghiệp kinh tế do cấp tỉnh quản lý;
- Chi quốc phòng - an ninh và trật tự, an toàn xã hội;
- Hoạt động của các cơ quan nhà nước; cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam; các tổ chức chính trị - xã hội (Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam) cấp tỉnh;
- Hỗ trợ cho các tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp cấp tỉnh theo quy định của pháp luật;
- Thực hiện các chính sách xã hội đối với các đối tượng do cấp tỉnh quản lý;
- Các chương trình quốc gia do Chính phủ giao cho cấp tỉnh quản lý;
- Trợ giá theo chính sách của nhà nước phần địa phương chi;
- Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.
3. Chi trả gốc, lãi tiền huy động cho đầu tư theo quy định tại khoản 3 điều 8 Luật Ngân sách nhà nước.
4. Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính.
5. Chi bổ sung cho ngân sách cấp dưới
6. Chi chuyển nguồn từ ngân sách tỉnh năm trước sang năm sau
Điều 8. Nhiệm vụ chi của ngân sách cấp huyện
1. Chi đầu tư phát triển:
Chi đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội theo phân cấp của tỉnh. Đối với thành phố Vinh và thị xã Cửa Lò được phân cấp chi đầu tư xây dựng các trường phổ thông quốc lập của các cấp học và các công trình phúc lợi công cộng, điện chiếu sáng, cấp thoát nước, giao thông nội thị, an toàn giao thông, vệ sinh đô thị.
2. Chi thường xuyên:
- Các hoạt động sự nghiệp giáo dục - đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hóa thông tin, thể dục thể thao dân số kế hoạch hóa gia đình, xã hội và sự nghiệp khác do cơ quan cấp huyện quản lý;
- Các hoạt động sự nghiệp kinh tế do cơ quan cấp huyện quản lý (bao gồm cả khuyến nông xã);
- Quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội;
- Hoạt động của các cơ quan nhà nước (bao gồm cả chi cho công tác tôn giáo); cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam; các tổ chức chính trị - xã hội (Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam) cấp huyện;
- Hỗ trợ cho các tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp cấp huyện theo quy định của pháp luật;
- Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật;
3. Chi bổsung cho ngân sách cấp dưới
4. Chi chuyển nguồn từ ngân sách huyện năm trước sang năm sau
Điều 9. Nhiệm vụ chi của ngân sách xã, phường, thị trấn
1. Chi đầu tư phát triển:Thực hiện theo Thông tư số 106/2003/TT-BTC ngày 7/11/2003 của Bộ Tài chính về hướng dẫn quản lý vốn đầu tư XDCB thuộc xã, phường, thị trấn.
2. Chi thường xuyên:
-Chi công tác xã hội và hoạt động văn hóa thông tin, thể dục thể thao do xã, phường, thị trấn quản lý;
- Hoạt động của các cơ quan nhà nước; cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam; các tổ chức chính trị - xã hội (Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam) xã, phường, thị trấn;
- Hỗ trợ kinh phí bổ túc văn hóa, nhà trẻ, mẫu giáo do xã, thị trấn quản lý;
- Hoạt động y tế xã, thị trấn (riêng lương cán bộ xã, bản do ngành y tế trả trực tiếp);
Quản lý duy tu, bảo dưỡng các công trình kiến trúc, tài sản, các công trình phúc lợi, đường giao thông do xã quản lý;
- Chi khuyến nông, lâm, ngư;
Chi về công tác dân quân tự vệ, trật tự an toàn xã hội;
- Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.
3. Chi chuyểnnguồn từ ngân sách xã,phường, thịtrấn năm trước sangnămsau.
II- CƠCHẾ QUẢN LÝ, ĐIỂU HÀNH CHI NGÂNSÁCH
Điều 10. Nguyên tắc ban hành các cơ chế chính sách của địa phương (theo thẩm quyền) liên quan đến chi ngân sách
Nhiệm vụ chi thuộc ngân sách cấp nào do ngân sách cấp đó bảo đảm. Việc ban hành và thực hiện các cơ chế chính sách của địa phương liên quan đến thu chi ngân sách phải dựa trên cơ sở chính sách, chế độ chung của nhà nước, phải có giải pháp bảo đảm nguồn tài chính phù hợp với khả năng cân đối của ngân sách.
Cơ chế chính sách liên quan đến ngành nào thì giao ngành đó phối hợp vái Sở Tài chính thẩm định về mức độ đảm bảo nguồn chi, tham mưu trình HĐND & UBND tỉnh ban hành. Đối với các cơ chế chính sách do huyện ban hành giao phòng Tài chính - Kế hoạch huyện chủ trì phối hợp với các phòng ban chức năng thẩm định, tham mưu.
Điều 11. Chi xây dựng cơ bản
1- Nguồn vốn chi xây dựng cơ bản:
a) Nguồn vốn chi xây dựng cơ bản của ngân sách tỉnh:
- Vốn đầu tư phát triển tập trung do Nhà nước phân bổ từ ngân sách Trung ương (cả vốn trong nước và vốn ngoài nước);
- Tiền cấp quyền sử dụng đất ngân sách tỉnh hưởng để đầu tư xây dựng cơ bản, chi đền bù giải phóng mặt bằng theo quy định;
- Vốn đầu tư các chương trình mục tiêu quốc gia và đầu tư các dự án lớn;
- Huy động của các tổ chức, cá nhân để đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng theo quy định của Chính phủ;
- Viện trợ không hoàn lại, đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước cho ngân sách cấp tỉnh để đầu tư xây dựng cơ bản;
- Các khoản vay để đầu tư theo quy định tại Khoản 3, Điều 8 của Luật ngân sách nhà nước;
- Các nguồn vốn khác (nếu có) theo chế độ quy định.
b) Nguồn vốn chi xây dựng cơ bản của ngân sách cấp huyện:
- Tiền thu cấp quyền sử dụng đất được hưởng theo tỷ lệ điều tiết;
- 30% tiền thu từ hoạt động xổ số kiến thiết do cấp huyện thực hiện được để lại đầu tư các công trình phúc lợi;
- Hỗ trợ đầu tư XDCB từ ngân sách cấp trên;
- Viện trợ không hoàn lại, đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước cho ngân sách cấp huyện để đầu tư xây dựng cơ bản;
- Các nguồn vốn khác (nếu có) theo chế độ quy định.
c) Nguồn vốn chi xây dựng cơ bản của ngân sách cấp xã:
- Tiền thu cấp quyền sử dụng đất được hưởng theo tỷ lệ điều tiết;
- 70% tiền thu từ hoạt động xổ sổ kiến thiết do cấp xã thực hiện (phát sinh trên địa bàn xã, phường, thị trấn) được để lại đầu tư các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội của xã;
- Hỗ trợ đầu tư XDCB từ ngân sách cấp trên;
- Thu từ hoạt động kinh doanh vận tải tư nhân và xây dựng nhà ở tư nhân;
- Thuế sử dụng đất nông nghiệp (nếu có);
- Viện trợ không hoàn lại, đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước cho ngân sách cấp xã để đầu tư xây dựng cơ bản;
- Các nguồn vốn khác (nếu có) theo chế độ quy định.
Vốn đầu tư XDCB của cấp huyện và cấp xã, phần được để lại theo phân cấp quản lý của UBND tỉnh phải ưu tiên bố trí thực hiện chuyển đổi ruộng đất nông nghiệp, kiên cố hóa kênh mương thủy lợi (kể cả phần để trả nợ tiền vay về kiên cố hóa kênh mương và trả nợ vay các nhà máy xi măng), làm giao thông nông thôn và ưu tiên trả nợ khối lượng XDCB trong kế hoạch đã hoàn thành của huyện và xã.
2. Quảnlý vàquyết toán vốn đầutư XDCB:
a) Quản lý thanh toán vốn đầu tư XDCB:
Quản lý, thanh toán vốn đầu tư và vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư và xây dựng thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước thực hiện theo Thông tư số 44/2003/TT-BTC ngày 15/5/2003 và Thông tư số 45/2004/TT-BTC ngày 21/5/2004 của Bộ Tài chính.
b) Quyết toán vốn đầu tư XDCB:
Quyết toán vốn đầu tư thực hiện trong năm kế hoạch thực hiện theo Thông tư số 53/2005/TT-BTC ngày 23/6/2005 của Bộ Tài chính hướng dẫn lập, thẩm định và báo cáo quyết toán vốn đầu tư XDCB thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước theo niên độ ngân sách hàng năm.
Quyết toán vốn đầu tư hoàn thành thực hiện theo Thông tư số 45/2003/TT-BTC ngày 15/5/2003 của Bộ Tài chính hướng dẫn quyết toán vốn đầu tư và Quyết định số 168/2003/QĐ-BTC ngày 07/10/2003 của Bộ Tài chính về việc ban hành quy trình thẩm tra quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành.
Tất cả các dự án đầu tư sử dụng vốn Ngân sách nhà nước, vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước sau khi hoàn thành đưa vào sử dụng đều phải quyết toán vốn đầu tư, Chủ đầu tư có trách nhiệm quyết toán vốn đầu tư ngay sau khi công trình hoàn thành theo đúng quy định tại Thông tư số 45/2004/TT-BTC ngày 21/5/2004 của Bộ Tài chính.
Chủ đầu tư không thực hiện đúng thời gian lập báo cáo quyết toán theo quy định thì Trưởng ban và Kế toán trưởng Ban quản lý dự án sẽ bị tạm thời đình chỉ mọi công tác để tập trung vào quyết toán công trình, chỉ được bố trí lại công việc sau khi dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt quyết toán vốn đầu tư hoàn thành. Tập thể, cá nhân các Ban quản lý dự án, các chủ đầu tư, UBND các huyện, thành phố, thị xã, các Sở, Ban, Ngành nếu có công trình quyết toán chậm so với thời gian quy định, sẽ không được xét các danh hiệu thi đua năm đó.
Những dự án đầu tư không đảm bảo thời hạn quyết toán vốn đầu tư theo quy định sẽ không bố trí tiếp vốn trả nợ (nếu thiếu) và không được ghi kế hoạch vốn cho các hạng mục tiếp theo (nếu dự án đó còn có hạng mục công trình chưa ghi kế hoạch).
Nhà thầu không phối hợp với chủ đầu tư lập báo cáo quyết toán theo đúng thời hạn quy định sẽ không được tham gia dự thầu các công trình khác trong thời hạn 1 năm. Trong trường hợp tái phạm trên 3 lần sẽ bị rút giấy phép kinh doanh.
Đơn vị tư vấn thực hiện công tác lập báo cáo nghiên cứu khả thi, thiết kế - lập dự toán không chuẩn xác, làm cho quá trình thi công phải sửa đổi, bổ sung hoặc thiết kế lại gây lãng phí thì phải đền bù thiệt hại và không được hưởng chi phí tư vấn. Trường hợp tái phạm trên 3 lần thì bị rút giấy phép kinh doanh.
Hàng năm giao Sở Tài chính tổng hợp số lượng, danh mục các công trình tồn đọng, báo cáo UBND tỉnh xem xét, giải quyết.
Điều 12. Chi sự nghiệp giáo dục - Đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hóa thông tin, thể dục thể thao.
-Phân cấp chi sự nghiệp giáo dục - đào tạo, dạy nghề, y tế cho ngân sách cấp huyện. Các huyện, thành phố, thị xã không được bố trí các khoản chi này thấp hơn số tỉnh thông báo. Khi giao dự toán ngân sách cho các huyện, thành phố, thị xã phải ghi rõ chi sự nghiệp giáo dục - đào tạo, dạy nghề, chi sự nghiệp y tế.
- Căn cứ vào thông báo chi ngân sách của Giám đốc Sở Tài chính, Thủ trưởng các đơn vị dự toán cấp I tiến hành phân bổ và giao dự toán chi ngân sách cho các đơn vị dự toán ngân sách trực thuộc (sau khi thông nhất với cơ quan tài chính) theo nguyên tắc:
+ Tổng số giao cho các đơn vị trực thuộc không vượt quá dự toán được cấp thẩm quyền giao cả về tổng mức và chi tiết theo từng lĩnh vực.
+ Dự toán giao cho các đơn vị sử dụng ngân sách được phân bổ chi tiết theo các nhóm mục chủ yếu của Mục lục ngân sách Nhà nước.
+ Đối với kinh phí sự nghiệp ngành, kinh phí chưa phân bổ: Trong quá trình thực hiện, khi xác định được nhiệm vụ chi và đơn vị thực hiện, đơn vị dự toán cấp I tập hợp gửi Sở Tài chính thẩm định. Sau khi có văn bản thẩm định của Sở Tài chính, đơn vị dự toán cấp I giao bổ sung dự toán cho các đơn vị dự toán cấp II, cấp III cùng ngành, các đơn vị khác Sở Tài chính giao dự toán bổ sung.
- Các ngành chủ quản, các huyện, thành phố, thị xã có trách nhiệm thường xuyên kiểm tra, giám sát chặt chẽ các hoạt động thu chi tài chính tại các đơn vị trực thuộc đảm bảo đúng chế độ, đúng mục đích và có hiệu quả.
- Công tác thẩm tra và xét duyệt quyết toán thực hiện theo đúng các văn bản của Bộ Tài chính hướng dẫn xét duyệt, thông báo quyết toán năm đối với các đơn vị hành chính sự nghiệp.
1. Chi sự nghiệp giáo dục:
a) Đối với ngành giáo dục huyện:
- Trên cơ sở dự toán năm tỉnh đã phân bổ, Chủ tịch UBND huyện giao Trưởng phòng Giáo dục phối hợp Trưởng phòng Tài chính - Kế hoạch lập dự toán chi tiết cho các cấp học (mầm non, tiểu học, trung tâm KT-TH-HN-DN và phòng Giáo dục) thông báo dự toán chi tiết năm đến các đơn vị thụ hưởng ngân sách và gửi dự toán tổng hợp cho Kho bạc Nhà nước nơi giao dịch theo đúng quy định. Các trường trung học phổ thông, trung tâm giáo dục thường xuyên lập dự toán gửi phòng Tài chính - Kế hoạch thẩm định, trình Chủ tịch UBND huyện ra quyết định giao dự toán để thực hiện.
- Để đảm bảo cho hoạt động chuyên môn của các cấp học, ngành học, chi thi học sinh giỏi, giáo viên giỏi, tập huấn, hội họp và các khoản chi khác theo chế độ nhà nước, Sở Tài chính thống nhất với Sở Giáo dục đào tạo quy định mức kinh phí được để lại phòng Giáo dục. Giao Sở Giáo dục Đào tạo chủ trì cùng Sở Tài chính hướng dẫn cụ thể các nội dung chi của phòng Giáo dục - Đào tạo huyện, thành phố, thị xã.
b) Một số khoản chi phí khác thực hiện như sau:
- Chế độ hỗ trợ giáo viên mầm non bán công thực hiện theo Quyết định số 38/2001/QĐ-UB ngày 29/5/2001 của UBND tỉnh;
- Chế độ đối với giáo viên ở miền xuôi lên công tác tại miền núi thực hiện theo Quyết định số 164/1999/QĐ-UB ngày 28/12/1999 của UBND tỉnh;
- Chi khen thưởng giáo viên giỏi và học sinh giỏi đạt thành tích cao thực hiện theo Quyết định số 121/2002/QĐ-UB ngày 31/12/2002 của UBND tỉnh;
- Chế độ đối với giáo viên đi học nâng cao trình độ thực hiện theo Thông tư số 79/2005/TT-BTC ngày 15/9/2005 của Bộ Tài chính hướng dẫn quản lý và sử dụng kinh phí đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nhà nước. Giao Sở Tài chính chủ trì phối hợp với các ngành liên quan tham mưu cho UBND tỉnh sửa đổi Quyết định số 02/2003/QĐ-UB ngày 03/1/2003 phù hợp với các quy định mới của Bộ Tài chính.
- Chế độ đối với chính sách tăng cường giáo viên cho các huyện vùng cao thực hiện theo Quyết định số 37/2003/QĐ-UB ngày 02/4/2003 của UBND tỉnh.
- Các chế độ phụ cấp quy định tại Nghị định số 35/2001/NĐ-CP ngày 9/7/2001 của Chính phủ về chính sách đối với nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục đang công tác tại các trường chuyên biệt, ở vùng cao có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn được tính lại theo quy định tại Nghị định 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 và Quyết định 244/2005/QĐ-TTg ngày 06/10/2005 của Thủ tướng Chính phủ. Các chế độ khác vẫn được thực hiện theo Thông tư liên tịch số 11/2002/TTLT-BGDĐT-BTCCBCP-BTC-BLĐ&TBXH ngày 27/3/2002 hướng dẫn thi hành Nghị định số 35/2001/NĐ-CP ngày 9/7/2001 của Chính phủ; Quyết định số 105/QĐ-UB ngày 22/11/2002 của UBND tỉnh quy định một số chính sách cho nhà giáo, cán bộ quản lý công tác ở các trường chuyên biệt, ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
- Chính sách cho giáo viên không đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ thực hiện theo Quyết định 109/2002/QĐ-UB ngày 4/12/2002 của UBND tỉnh.
- Học bổng đối với học sinh dân tộc thiểu số học nghề nội trú thực hiện theo Quyết định số 267/2005/QĐ-TTg ngày 31/10/2005 của Thủ tướng Chính phủ.
- Kinh phí sách thiết bị trường học: Giao Sở Giáo dục đào tạo chủ trì, phối hợp với Sở Tài chính lên phương án phân bổ cho các huyện. Giao phòng Giáo dục các huyện, thành phố thị xã mua sắm sách thiết bị trường học cho các trường trên địa bàn theo đúng dự toán và chủng loại thiết bị đã được phê duyệt và thực hiện đúng quy định về mua sắm tài sản hiện hành.
c) Tất cả các khoản chi từ nguồn thu học phí và các khoản thu khác (nếu có), đơn vị phải thực hiện theo các quy định hiện hành của Nhà nước.
2. Kinh phí đào tạo và dạy nghề:
a) Đào tạo cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, đào tạo nghề, đào tạo ngắn hạn và các hình thức đào tạo khác được cân đối trong dự toán ngân sách tỉnh. Kinh phí đào tạo không bố trí đối với học đại học tại chức. Các trường hợp học đại học tại chức theo nghiệp vụ chuyên môn để chuẩn hóa cán bộ, người đi học phải tự túc hoàn toàn kinh phí.
b) Kinh phí đào tạo và đào tạo lại để nâng cao trình độ cán bộ, công chức vẫn tiếp tục thực hiện theo Nghị quyết của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh, Thông tư số 79/2005/TT-BTC ngày 15/9/2005 của Bộ Tài chính hướng dẫn quản lý và sử dụng kinh phí đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức Nhà nước và các quy định khác có liên quan.
3. Chi sự nghiệp y tế:
a) Đối với khoản chi sự nghiệp y tế cấp huyện:
- Chi thường xuyên tại Trung tâm:
Các khoản chi lương, phụ cấp, các khoản đóng góp theo chế độ quy định (BHXH, BHYT, KPCĐ) của cán bộ nhân viên tại các trung tâm y tế huyện và cán bộ y tế xã, phụ cấp y tế bản, chi khám chữa bệnh cho trẻ em dưới 6 tuổi, do ngân sách tỉnh cân đối 100% (bao gồm cả số thu viện phí, BHYT được cân đối nguồn làm lương). Các khoản chi cho công tác chuyên môn (khám chữa bệnh) căn cứ vào định mức giường bệnh và khả năng ngân sách để đảm bảo cho hoạt động y tế.
- Chi thực hiện đề án tăng cường bác sỹ về cơ sở: Đã cân đối trong dự toán ngân sách theo Quyết định số 10/2004/QĐ-UB ngày 12/2/2004 của UBND tỉnh.
- Chi khám chữa bệnh cho trẻ em dưới 6 tuổi: Thực hiện theo Quyết định số 83/2005/QĐ-UBND ngày 30/9/2005 cua UBND tỉnh v/v quy định khám chữa bệnh cho trẻ em dưới 6 tuổi không phải trả tiền tại các cơ sở y tế công lập, Công văn số 2285/CV-UB ngày 12/5/2005 của UBND tỉnh v/v kinh phí khám chữa bệnh cho trẻ em dưới 6 tuổi tại trạm y tế xã. Sở Y tế phân bổ kinh phí cho các đơn vị, các huyện, thành phố, thị xã trên cơ sở dự toán được UBND tỉnh giao.
b) Đối với các khoản chi sự nghiệp y tế cấp tỉnh:
Ngân sách đảm bảo chi các khoản lương, phụ cấp, các khoản đóng góp, chi khám chữa bệnh cho trẻ em dưới 6 tuổi, các khoản chi phí sự nghiệp hợp lý cần thiết khác cho các đơn vị sự nghiệp y tế (bao gồm cả số thu viện phí, BHYT được cân đối nguồn làm lương). Các khoản chi cho công tác chuyên môn (khám chữa bệnh) căn cứ vào định mức giường bệnh và khả năng ngân sách để đảm bảo cho hoạt động y tế.
4. Chi khám, chữa bệnh cho người nghèo:
Việc lập, quản lý và sử dụng Quỹ khám chữa bệnh cho người nghèo thực hiện theo quyết định số 139/2002/QĐ-TTg ngày 15/10/2002 của Thủ tướng Chính phủ; Thông tư hướng dẫn số 14/2002/TTLT/BYT-BTC ngày 16/12/2002 của liên bộ Y tế - Tài chính “về việc tổ chức khám chữa bệnh và lập, quản lý, sử dụng, thanh quyết toán Quỹ khám, chữa bệnh cho người nghèo” và Quyết định số 25/2003/QĐ.UB ngày 29/1/2003 của Chủ tịch UBND tỉnh v/v triển khai Quyết định số 139 của Thủ tướng Chính phủ về khám chữa bệnh cho người nghèo và công văn liên Sở Lao động Thương binh xã hội, Sở Y tế, Sở Tài chính, Bảo hiểm xã hội số 619/HĐLN ngày 16/4/2003. Năm 2006, bố trí kinh phí thực hiện khám chữa bệnh cho người nghèo theo chuẩn nghèo mới quy định tại Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg ngày 08/7/2005 của Thủ tướng Chính phủ với mức mệnh giá thẻ BHYT được quy định tại Công văn số 16208/BTC-HCSN ngày 13/12/2005 của Bộ Tài chính là 60.000 đồng/ người/năm.
5. Chi sự nghiệp Văn hóa thông tin – Thể dục thể thao:
a) Đối với các đơn vị thuộc ngành:
Sau khi có quyết định của Chủ tịch UBND tỉnh về bố trí ngân sách đối với các ngành trên, Sở quản lý chuyên ngành phân bổ dự toán tới từng đơn vị theo đúng Mục lục ngân sách do Nhà nước quy định và thông báo công khai để các đơn vị biết. Sở Tài chính phối hợp với Sở Văn hóa thông tin, Sở Thể dục thể thao kiểm tra giám sát chặt chẽ các khoản thu chi tại các đơn vị, thực hiện tốt công tác thẩm tra xét duyệt quyết toán hàng năm theo chế độ quy định.
b) Các đơn vị trực thuộc huyện, thành phố, thị xã (cấp huyện):
Kinh phí cho hoạt động văn hóa thông tin, thể dục thể thao cấp huyện là nhiệm vụ chi của ngân sách cấp huyện và do huyện điều hành trên nguyên tắc đảm bảo kinh phí hoạt động.
Điều 13. Chi sự nghiệp kinh tế
1. Đối với cấp huyện:
Các khoản chi sự nghiệp kinh tế, kiết thiết thị chính thuộc các huyện, thành phố, thị xã quản lý là nhiệm vụ chi của ngân sách cấp huyện và được bố trí trong dự toán ngân sách huyện. Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện có trách nhiệm phân bổ chi tiết dự toán chi theo từng nội dung và Mục lục Ngân sách Nhà nước báo cáo UBND cấp huyện xem xét để trình HĐND cấp huyện quyết định.
2. Chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp nông thôn, thủy sản, chính sách trợ giá, trợ cước:
Thực hiện theo Nghị quyết số 137/2005/NQ-HĐND ngày 26/12/2005 của HĐND tỉnh khóa XV, kỳ họp thứ sáu về một số chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển nông nghiệp nông thôn, thủy sản và các quy định hiện hành khác.
Giao Sở Tài chính chủ trì phối hợp với các ngành liên quan cân đối ngân sách, trình UBND tỉnh phê duyệt. Giao các ngành chủ quản (Sở Nông nghiệp & PTNT, Sở Thủy sản, Sở Giao thông vận tải, Ban Dân tộc & Miền núi,...) chủ trì phối hợp với Sở Tài chính tham mưu trình UBND tỉnh phân bổ cho các đơn vị, các ngành, các huyện được thụ hưởng. Căn cứ quyết định phân bổ của UBND tỉnh, Sở Tài chính cấp phát cho các ngành, các đơn vị thuộc cấp tỉnh, cấp phát kinh phí cho các huyện, thành, thị bằng hình thức bổ sung có mục tiêu qua ngân sách huyện để quản lý và thanh quyết toán theo quy định hiện hành.
3. Kinh phí trợ giá báo và các ấn phẩm của cơ quan Đảng:
Bao gồm: Trợ giá xuất bản tờ tin nội bộ, sách chính trị và khoa học kỹ thuật, bản tin khoa học và ứng dụng; kinh phí cấp báo Nhân dân, báo Nghệ An mỗi loại mỗi số đến các chi bộ thuộc xã đặc biệt khó khăn, vùng giáo toàn tòng, thực hiện theo hướng dẫn của Tỉnh ủy.
Sở Tài chính phối hợp với Văn phòng Tỉnh ủy căn cứ vào số lượng đối tượng được hưởng, giá thành các ấn phẩm đã được phê duyệt để phân bổ kinh phí.
4. Cơ chế điều hành các khoản chi sự nghiệp kinh tế khác thuộc cấp tỉnh:
a) Kinh phí xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm:
Sau khi dự án xóa đói giảm nghèo được UBND tỉnh phê duyệt, tuỳ theo tiến độ triển khai, Sở Tài chính chuyển kinh phí qua Ngân hàng chính sách xã hội để cho vay. Ngân hàng Chính sách xã hội có trách nhiệm cho vay theo các dự án được duyệt, đồng thời đôn đốc thu hồi các khoản cho vay đã đến hạn trả, cùng với kinh phí ngân sách trích hàng năm tạo nên quỹ xóa đói giảm nghèo và giải quyết việc làm của tỉnh để cho vay luân chuyển.
b) Kinh phí bù lỗ doanh nghiệp công ích:
Căn cứ vào dự toán chi ngân sách được HĐND tỉnh thông qua, căn cứ vào dự toán thu chi của các doanh nghiệp công ích được duyệt, Sở Tài chính chủ trì phối hợp với Sở Kế hoạch và đầu tư cùng các ngành có liên quan lập kế hoạch phân bổ kinh phí cấp bù lỗ chi tiết cho từng đơn vị trình Chủ tịch UBND tỉnh quyết định.
Hàng tháng, căn cứ vào kế hoạch cấp bù được duyệt của UBND tỉnh và tiến độ thực hiện kế hoạch, Sở Tài chính chuyển kinh phí đến các đơn vị. Sau khi kết thúc năm, các DNNN hoạt động công ích được hưởng khoản kinh phí cấp bù có trách nhiệm báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh doanh với Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và đầu tư và ngành quản lý.
c) Kinh phí sự nghiệp giao thông (thuộc ngân sách địa phương)
Trên cơ sở dự toán ngân sách được HĐND tỉnh thông qua và quyết định của Chủ tịch UBND tỉnh về bố trí ngân sách cho sự nghiệp giao thông, giao Sở Giao thông vận tải chủ trì phối hợp với Sở Tài chính phân khai cụ thể theo nội dung và chi tiết theo Mục lục ngân sách Nhà nước (kể cả vốn hỗ trợ giao thông nông thôn miền núi). Riêng sửa chữa lớn, sửa chữa vừa thì phải thực hiện đúng chế độ quản lý cấp phát vốn sự nghiệp kinh tế có tính chất XDCB.
Kinh phí hỗ trợ giao thông nông thôn miền núi cấp phát qua ngân sách huyện để huyện quản lý.
d) Chỉ khuyến nông, khuyến lâm và khuyến ngư:
Thực hiện Quyết định số 50/2001/QĐ-UB ngày 25/9/2001 của UBND tỉnh về chính sách hỗ trợ, phát triển công tác khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, Sở Tài chính cân đối phụ cấp cho cán bộ khuyến nông xã vào ngân sách huyện. Trung tâm khuyến nông huyện tiếp nhận và trực tiếp chi trả cho cán bộ khuyến nông xã. Phụ cấp cán bộ khuyến nông xóm bản do ngân sách xã chi trả.
Riêng kinh phí bồi dưỡng, tập huấn cho cán bộ khuyến nông và người lao động nông nghiệp từ 35 tuổi đến dưới 50 tuổi, căn cứ vào chương trình và số lượng học viên từng lớp học, Sở Tài chính thông báo kinh phí từ nguồn đào tạo lại cán bộ cơ sở cho Trung tâm khuyến nông, khuyến lâm và Trung tâm khuyến ngư tỉnh (phần cấp tỉnh thực hiện) để tổ chức lớp học. Phần đào tạo cấp huyện được cân đối qua ngân sách huyện để cấp cho trạm khuyến nông huyện, thành, thị.
e) Chi khuyến công:
Chi khuyến công thực hiện theo Quyết định số 109/2004/QĐ-UB ngày 29/10/2004 của UBND tỉnh về việc ban hành quy chế quản lý, sử dụng Quỹ khuyến công tỉnh Nghệ An.
f) Chi khuyến khích xuất khẩu:
Chi khuyến khích xuất khẩu đối với các doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa sản xuất trong tỉnh. Giao Sở Thương mại chủ trì phối hợp với các ngành liên quan tham mưu cho UBND tỉnh sửa đổi, bổ sung các Quyết định số 68/2003/QĐ-UB ngày 05/8/2003 của UBND tỉnh về việc ban hành quy định một số chính sách khuyến khích xuất khẩu trên địa bàn tỉnh Nghệ An, Quyết định số 1304/QĐ-UB.TM ngày 28/4/2005 của UBND tỉnh v/v sửa đổi, bổ sung một số chính sách khuyến khích xuất khẩu trên địa bàn tỉnh theo hướng chỉ hỗ trợ đối với hàng hóa sản xuất trong tỉnh.
g) Chi thực hiện Nghị quyết 37, 39 (vốn sự nghiệp):
Giao Sở Kế hoạch - Đầu tư chủ trì phối hợp với Sở Tài chính tham mưu trình UBND tỉnh phân bổ nguồn vốn sự nghiệp thực hiện Nghị quyết 37, 39 đúng mục đích và đúng định hướng.
5. Ngân sách tỉnh đảm bảo kinh phí thực hiện các chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn, thủy sản, chính sách trợ giá, trợ cước theo đúng dự toán đã được HĐND tỉnh phê chuẩn và theo quyết định phân bổ của UBND tỉnh.
Điều 14. Chi các chương trình mục tiêu
Căn cứ vào chỉ tiêu vốn chương trình mục tiêu của Trung ương giao, Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các Sở, ban, ngành có liên quan phân bổ chi tiết vốn đầu tư XDCB chi tiết tới các đơn vị trình UBND tỉnh quyết định, Sở Tài chính chủ trì phối hợp với các Sở, ban, ngành có liên quan phân bổ chi tiết vốn sự nghiệp tới các đơn vị trình UBND tỉnh quyết định. Việc phân bổ vốn thực hiện trên nguyên tắc: Dựa vào chỉ tiêu của Trung ương tiến hành phân bổ cụ thể cho các đơn vị trình UBND tỉnh quyết định. Đối với nguồn kinh phí có tính chất XDCB, sau khi có quyết định của UBND tỉnh, Sở Tài chính làm thủ tục chuyển vốn sang Kho bạc Nhà nước tỉnh để quản lý, thanh toán theo quy định tại Thông tư số 44/2003/TT-BTC ngày 15/5/2003 của Bộ Tài chính. Đối với các nguồn kinh phí bố trí chi thường xuyên và chi các chương trình (chống ma túy, mại dâm, KHHGĐ, tiêm chủng, xóa mù...), Sở Tài chính thông báo các đơn vị được thụ hưởng và tiến hành chuyển vốn qua Kho bạc Nhà nước sau khi có dự toán được phê duyệt, đồng thời quản lý theo chế độ hiện hành.
Đối với kinh phí thực hiện Đề án xóa bỏ tụ điểm phức tạp về ma túy (do Công an tỉnh chủ trì). Đề án cai nghiện và giải quyết việc làm sau cai nghiện (do Sở Lao động - thương binh và xã hội chủ trì): Giao các ngành chủ trì thực hiện đề án phối hợp với các ngành có liên quan tham mưu cho UBND tỉnh thể chế hóa các chính sách tại 2 đề án bằng những chế độ, chính sách chi cụ thể, phối hợp Sở Tài chính tham mưu cho UBND tỉnh quyết định phân bổ để thực hiện.
Điều 15. Chi an ninh - quốc phòng
Cấp tỉnh: Căn cứ dự toán ngân sách đã được HĐND tỉnh thông qua và Chủ tịch UBND tỉnh ra quyết định, ủy quyền Giám đốc Sở Tài chính thông báo dự toán chi tới các đơn vị dự toán cấp I. Trên cơ sở nhiệm vụ chi thường xuyên theo quy định của Liên Bộ Tài chính - Quốc phòng - Công an và các quy định hiện hành khác để phân bổ kinh phí chi của các đơn vị (Bộ chỉ huy quân sự tỉnh, Bộ đội biên phòng tỉnh, Công an tỉnh).
Cấp huyện: Kinh phí an ninh quốc phòng được cân đối trong dự toán ngân sách cấp huyện và do huyện trực tiếp chi trả cho những nội dung chi thường xuyên theo chế độ quy định.
Kinh phí hoạt động của tiểu đội dân quân thường trực xã Nậm Cắn huyện Kỳ Sơn (thực hiện theo Quyết định số 620/QĐ-UB.NC ngày 8/3/2001 của UBND tỉnh Nghệ An), ngân sách tỉnh cân đối và cấp cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh đê chi trả.
Thực hiện Pháp lệnh dân quân tự vệ, kinh phí trang phục dân quân tự vệ được cân đối và cấp qua Bộ chỉ huy quân sự tỉnh. Giao Bộ chỉ huy quân sự tỉnh căn cứ dự toán được giao, tham mưu trình UBND tỉnh phê duyệt danh mục trang phục (chi tiết các xã, phường, thị trấn) và thực hiện việc mua sắm, cấp trang phục theo danh mục đã được phê duyệt.
Điều 16. Chi quản lý hành chính
1. Chi quản lý hành chính của cấp nào được tổng hợp vào dự toán ngân sách cấp đó. Trên cơ sở dự toán ngân sách được HĐND tỉnh thông qua, Chủ tịch UBND tỉnh ra quyết định và Sở Tài chính thông báo dự toán chi tới các ngành, các huyện phải thực hiện theo đúng dự toán được duyệt, không được dùng các nguồn kinh phí khác để chi quản lý hành chính. Kho bạc Nhà nước phải kiểm soát chặt chẽ các khoản chi tiêu hành chính.
2. Theo Luật Ngân sách Nhà nước, cơ quan Đảng cấp nào thì dự toán chi ngân sách Đảng được cân đối vào dự toán chi ngân sách cấp đó. Cơ quan Tài chính các cấp thực hiện việc cấp phát kinh phí cho cơ quan Đảng các cấp theo quy định của Liên bộ Tài chính - Ban Tài chính quản trị Trung ương.
3. Theo Luật Ngân sách Nhà nước, dự toán hoạt động của HĐND cấp nào được cân đối vào dự toán chi ngân sách cấp đó. Kinh phí hoạt động của HĐND được tập hợp chung vào dự toán kinh phí của Văn phòng HĐND & UBND (riêng cấp tỉnh là Văn phòng HĐND tỉnh - Đoàn đại biều Quốc hội) để cân đối vào nhiệm vụ chi của các cấp ngân sách. Chủ tịch HĐND các cấp chịu trách nhiệm điều hành nguồn kinh phí hoạt động của HĐND cấp mình theo đúng dự toán được duyệt. Văn phòng HĐND & UBND các cấp có trách nhiệm đảm bảo kinh phí hoạt động của HĐND theo Kế hoạch HĐND trong phạm vi dự toán được giao.
4. Thực hiện khoán chi hành chính:
Năm 2006, UBND tỉnh thực hiện cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với tất cả các Sở, các đơn vị hành chính cấp tỉnh; giao Chủ tịch UBND các huyện, thành thị triển khai đối với tất cả các đơn vị hành chính cấp huyện theo quy định tại Nghị định số 130/2005/NĐ-CP ngày 17/10/2000 của Chính phủ và các văn bản khác có liên quan.
5. Giao quyền tự chủ tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp có thu:
Sở Nội vụ, Sở Tài chính phối hợp với Sở chủ quản và các ngành có liên quan tham mưu UBND tỉnh triển khai giao quyền tự chủ tài chính đối với tất cả các đơn vị sự nghiệp có thu còn lại theo quy định tại Nghị định số 10/2002/NĐ-CP ngày 16/1/2002 của Chính phủ về cơ chế quản lý tài chính áp dụng cho đơn vị sự nghiệp có thu, Thông tư hướng dẫn số 25/2002/TT-BTC ngày 21/3/2002 và Thông tư 50/2003/TT-BTC ngày 22/5/2003 của Bộ Tài chính hướng dẫn các đơn vị có thu xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ và các văn bản có quy định hiện hành khác.
Điều 17. Chi Ngân sách xã, phường, thị trấn (gọi chung là xã)
- Thực hiện Luật Ngân sách Nhà nước, xã là một cấp ngân sách hoàn chỉnh trong cơ cấu ngân sách Nhà nước. Các khoản phát sinh về thu chi ngân sách xã được tổng hợp, phản ánh vào tài khoản thu chi ngân sách xã mở tại Kho bạc Nhà nước theo Thông tư số 60/2003/TT-BTC ngày 23/6/2003 và Quyết định số 94/2005/QĐ-BTC ngày 12/12/2005 của Bộ Tài chính.
- Việc lập, chấp hành, kế toán và quyết toán ngân sách xã thực hiện theo Thông tư số 60/2003/TT-BTC của Bộ Tài chính quy định về quản lý ngân sách xã và các hoạt động tài chính khác của xã. UBND cấp xã căn cứ quyết định của UBND cấp huyện về giao nhiệm vụ thu chi ngân sách, trình HĐND cùng cấp quyết định dự toán thu, chi ngân sách và phương án phân bổ dự toán chi thường xuyên theo từng loại của Mục lục Ngân sách Nhà nước theo 4 nhóm mục đã được Bộ Tài chính hướng dẫn tại Công văn số 7541/TC-NSNN ngày 08/7/2004, gửi KBNN nơi đơn vị giao dịch làm căn cứ thanh toán và kiểm soát chi.
- Dự toán chi ngân sách xã đã được tỉnh cân đối các khoản chi: Lương hưu theo Nghị định 111/CP, 130/CP và 50/CP đã được điều chỉnh theo Nghị định 119/CP ngày 27/9/2005 của Chính phủ; trợ cấp người nhận nuôi dưỡng trẻ em mồ côi, lang thang, bị bỏ rơi; trợ cấp cứu trợ xã hội thường xuyên tại cộng đồng; chế độ đối với người cao tuổi; chi thực hiện Pháp lệnh dân quân, tự vệ; sinh hoạt phí HĐND xã; tiền lương cho cán bộ, công chức cấp xã thực hiện theo Nghị định 121/2002/NĐ-CP, Nghị định 204/CP, Nghị định 118/CP; sinh hoạt phí cán bộ bán chuyên trách theo Nghị quyết HĐND tỉnh; chi hoạt động của chi bộ trực thuộc theo Quyết định 84/TW; các khoản phụ cấp khác theo quy định của Nhà nước; tính đủ BHXH, BHYT cho cán bộ, công chức theo quy định hiện hành, riêng đại biểu HĐND xã không thuộc diện hưởng lương từ ngân sách được tính 3% BHYT; phụ cấp cho cán bộ khuyến nông thôn, xóm, bản.
- Bộ phận Tài chính - kế toán xã, phòng Tài chính - Kế hoạch huyện và Kho bạc Nhà nước nơi giao dịch thực hiện công tác kế toán, lập báo cáo kế toán chi ngân xã theo chế độ hiện hành.
Điều 18. Chấp hành ngân sách Nhà nước
1. Phân bổ dựtoán ngân sách và tổ chứcđiều hành ngân sách:
- Sau khi được UBND tỉnh giao dự toán ngân sách, các cơ quan Nhà nước ở địa phương, các đơn vị dự toán cấp I tiến hành phân bổ và giao dự toán chi ngân sách cho các đơn vị sử dụng ngân sách trực thuộc. Phương án phân bổ dự toán ngân sách của các cơ quan Nhà nước và đơn vị dự toán cấp I trước khi giao cho các đơn vị sử dụng ngân sách trực thuộc phải gửi cho cơ quan tài chính cùng cấp để thẩm định.
Việc trích nộp kinh phí công đoàn thực hiện theo Thông tư số 119/2004/TTLT/BTC-TLĐLĐVN ngày 08/12/2004 của Liên tịch Bộ Tài chính - Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam.
- Trên cơ sở nhiệm vụ thu cả năm được giao và nguồn thu dự kiến phát sinh trong quý, cơ quan thu lập dự toán thu ngân sách quý gửi cơ quan tài chính cùng cấp trước ngày 20 tháng cuối quý trước.
- Cơ quan tài chính căn cứ vào khả năng nguồn thu và nhu cầu chi trong quý, lập phương án điều hành ngân sách quý của cấp mình bảo đảm nguồn để chi trong dự toán, đúng chế độ.
- Căn cứ vào dự toán chi ngân sách Nhà nước năm được giao và yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chi của đơn vị theo đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức cơ quan tài chính và Kho bạc Nhà nước thực hiện chi trả, thanh toán các khoản chi ngân sách Nhà nước theo nguyên tắc, chế độ hiện hành.
2. Chấp hành ngân sách Nhà nước trong điều kiện có biến động về thu, chi:
Trường hợp số thu không đạt dự toán được Hội đồng nhân dân quyết định, Uỷ ban nhân dân báo cáo Thường trực Hội đồng nhân dân điều chỉnh giảm một số khoản chi tương ứng theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước.
3. Sử dụng số thưởng vượt thu, tăng thu và tiết kiệm chi so với dự toán được giao:
Uỷ ban nhân dân dự kiến phương án sử dụng, thống nhất ý kiến với Thường trực Hội đồng nhân dân trước khi thực hiện. Đốì với thưởng vượt thu từ những khoản thu phân chia giữa ngân sách Trung ương với ngân sách địa phương: căn cứ vào mức thưởng của Chính phủ, UBND tỉnh báo cáo HĐND tỉnh quyết định sử dụng theo quy định.
Định kỳ, Uỷ ban nhân dân báo cáo Thưòng trực Hội đồng nhân dân tình hình thực hiện những nhiệm vụ chi này.
4. Điều hành bổ sung cân đối ngân sách:
Giám đốc Sở Tài chính chịu trách nhiệm điều hành bổ sung cân đối cho ngân sách cấp dưới theo dự toán đã được phê duyệt. Căn cứ vào khả năng thu của ngân sách tỉnh, tiến độ thu và nhu cầu chi của ngân sách cấp dưới để chuyển nguồn bổ sung cân đối cho ngân sách cấp dưới đảm bảo yêu cầu chi cho các nội dung.
5. Ứng trước dự toán ngân sách năm sau:
Việc chi ứng trước ngân sách năm trước cho năm sau do Chủ tịch UBND tỉnh quyết định và chịu trách nhiệm thu hồi các khoản chi ứng trước ngân sách.
- Các dự án, công trình quốc gia và công trình XDCB thuộc nhóm A, đủ điều kiện thực hiện theo quy định về quản lý đầu tư và xây dựng, đang thực hiện và cần phải đẩy nhanh tiến độ.
- Các nhiệm vụ quan trọng, cấp bách được xác định thuộc dự toán năm sau, nhưng phải thực hiện ngay trong năm, chưa được bố trí trong dự toán và nguồn dự phòng không đáp ứng được.
6. Bố trí nguồn thực hiện cải cách tiền lương:
Dự toán chi năm 2006 đã bao gồm tiền lương tăng thêm theo Nghị định 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang; Quyết định số 244/2005/QĐ-TTg ngày 06/10/2005 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ phụ cấp ưu đãi đối với nhà giáo đang trực tiếp giảng dạy trong các cơ sở giáo dục công lập; Nghị định số 118/2005/NĐ-CP ngày 15/9/2005 của Chính phủ điều chỉnh mức lương tối thiểu chung; Nghị định số 119/2005/NĐ-CP ngày 27/9/2005 của Chính phủ v/v điều chỉnh trợ cấp đối với cán bộ xã đã nghỉ việc và các văn bản có liên quan.
Căn cứ vào dự toán ngân sách năm 2006 được giao, các huyện, thành phố, thị xã, phường, thị trấn, các ngành, các đơn vị dự toán bố trí nguồn thực hiện cải cách tiền lương năm 2006 như sau:
- Sử dụng 50% vượt thu ngân sách các cấp thực hiện năm 2005 so với dự toán 2005 UBND tỉnh giao; 50% số tăng thu ngân sách các cấp dự toán năm 2006 so với dự toán năm 2005 của UBND tỉnh giao và dành 50% tăng thu thực hiện năm 2006 so với dự toán UBND tỉnh giao năm 2006 (không kể tiền sử dụng đất).
- Các đơn vị sự nghiệp có thu (bao gồm cả các đơn vị thực hiện cơ chế tài chính theo Nghị định số 10/2002/NĐ-CP của Chính phủ) sử dụng tối thiểu 40% số thu được để lại theo chế độ (riêng ngành y tế sử dụng tối thiểu 35% không bao gồm tiền thuốc, máu, dịch truyền và hóa chất) số cơ quan hành chính sự nghiệp có nguồn thu sử dụng tối thiểu 40% số thu được để lại theo chế độ để thực hiện cải cách tiền lương năm 200
- Thực hiện tiết kiệm 10% số chi thường xuyên (trừ tiền lương và các khoản có tính chất lương)
7. Quyết toán ngân sách Nhà nước:
Công tác kế toán, quyết toán ngân sách Nhà nước thực hiện theo đúng quy định của Luật Ngân sách Nhà nước và các văn bản hướng dẫn thực hiện.
Đơn vị dự toán cấp trên xem xét duyệt quyết toán của đơn vị cấp dưới. Kết thúc việc xem xét duyệt quyết toán năm đơn vị xét duyệt phải ra thông báo đối với dự toán cấp dưới. Đối với đơn vị dự toán cấp I gửi đơn vị dự toán cấp dưới và gửi cơ quan tài chính cùng cấp, Thủ trưởng đơn vị dự toán cấp trên phải chịu trách nhiệm về kết quả xét duyệt quyết toán theo luật định.
Thời hạn xét duyệt, thẩm định và phê chuẩn quyết toán ngân sách năm quy định như sau:
- Đối với đơn vị dự toán ngân sách:
Thời hạn quyết toán năm của đơn vị dự toán cấp II, cấp III do đơn vị dự toán cấp I quy định nhưng phải bảo đảm thời gian để đơn vị dự toán cấp I xem xét duyệt, tổng hợp, lập gửi cơ quan tài chính cùng cấp trước ngày 01/6 năm sau (đối với cấp tỉnh), trước ngày 30/4 năm sau (đối với cấp huyện).
- Bộ phận Tài chính - Kế toán xã có trách nhiệm lập báo cáo thu, chi ngân sách cấp xã trình UBND xã xem xét gửi phòng Tài chính - Kế hoạch huyện đồng thời trình Hội đồng nhân dân xã phê chuẩn.
- Phòng Tài chính - Kế hoạch các huyện, thành, thị; lập quyết toán thu, chi ngân sách cấp huyện; tổng hợp, lập báo cáo thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn huyện và quyết toán thu, chi ngân sách huyện (bao gồm cả thu, chi cấp huyện và cấp xã). Gửi UBND huyện xem xét gửi Sở Tài chính, đồng thời trình Hội đồng nhân dân huyện để phê chuẩn trước ngày 30/6 năm sau.
- Sở Tài chính có trách nhiệm: Lập quyết toán thu, chi ngân sách cấp tỉnh; tổng hợp lập quyết toán thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh và báo cáo quyết toán thu, chi ngân sách địa phương trình UBND tỉnh xem xét gửi Bộ Tài chính, đồng thời trình Hội đồng nhân dân tỉnh phê chuẩn trước ngày 31/12 năm sau.
Điều 19. Điều hành ngân sách dự phòng
Dự toán chi ngân sách các cấp chính quyền địa phương được bố trí khoản dự phòng 2% - 5% tổng số chi của ngân sách mỗi cấp (không tính các khoản ghi thu - ghi chi) và được cơ quan tài chính trình UBND cùng cấp quyết định sử dụng.
Dự phòng ngân sách được sử dụng các nhiệm vụ sau:
+ Thực hiện các giải pháp khẩn cấp nhằm phòng chống thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn;
+ Khắc phục hậu quả thiên tai, hỏa hoạn đối với thiệt hại tài sản Nhà nước; hỗ trợ khắc phục hậu quả đối với thiệt hại của các tổ chức và dân cư;
+ Thực hiện các nhiệm vụ quan trọng về An ninh - quốc phòng và các nhiệm vụ cần thiết cấp bách khác phát sinh ngoài dự toán đã giao đầu năm cho các đơn vị trực thuộc. Các cấp chính quyền địa phương (tỉnh, huyện, xã) chủ động sử dụng dự phòng ngân sách cấp mình để đáp ứng các nhu cầu chi phát sinh trên địa bàn, kể cả mua sắm, sửa chữa phương tiện, tài sản (máy photocopy, máy vi tính, bàn, ghế...).
Sở Tài chính theo định kỳ tổng hợp các nhu cầu chi đột xuất trình UBND tỉnh hoặc Hội đồng tài chính xem xét giải quyết.
Giám đốc Sở Tài chính được ủy quyền giải quyết kinh phí dự phòng ngân sách tỉnh cho những nội dung chi cần thiết từ 10 triệu đồng trở xuống cho một đơn vị trong một năm.
Cơ quan Tài chính các cấp hàng quý tổng hợp tình hình sử dụng nguồn dự phòng ngân sách cấp mình báo cáo Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cùng cấp.
III- VỂ TIẾT KIỆM CHỐNG LÃNG PHÍ
Điều 20. Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong chi tiêu ngân sách kể cả chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển, quản lý chặt chẽ các nguồn vốn và tài sản Nhà nước trong các doanh nghiệp, tài sản công trong khu vực hành chính sự nghiệp. Các ngành, các cấp, các đơn vị phải thực hiện nghiêm túc Luật thực hành tiết kiệm chống lãng phí. Giao Sở Tài chính chủ trì tham mưu cho UBND tỉnh sửa đổi, bổ sung Quyết định số 32/2005/QĐ-UB ngày 07/3/2005 của UBND tỉnh quy định về tiết kiệm chống lãng phí phù hợp với các quy định hiện hành.
1. Quản lý chặt chẽ việc xây dựng mới và cải tạo, nâng cấp, mở rộng các trụ sở làm việc của các cơ quan, xí nghiệp và mua sắm xe ôtô con (trường hợp đặc biệt phải được sự đồng ý của Chủ tịch UBND tỉnh bằng văn bản). Các ngành chức năng (Thuế, Công an) không được làm các thủ tục cho đăng ký xe ôtô con cho các đơn vị nếu không có văn bản đồng ý của Chủ tịch UBND tỉnh, không có thông báo giá và thông báo nguồn kinh phí mua sắm của Sở Tài chính. Trên cơ sở kết quả kiểm kê tài sản, đất đai khu vực HCSN và chế độ trang bị tài sản, thực hiện điều hòa tài sản từ nơi thừa sang nơi thiếu để sử dụng có hiệu quả. Nghiêm cấm các đơn vị dùng kinh phí Ngân sách để đi chúc tết, làm quà, biếu xén... Nếu đơn vị nào cố tình vi phạm, khi bị phát hiện thì Thủ trưởng đơn vị và kế toán trưởng phải bồi hoàn và tuỳ theo mức độ để xử lý kỷ luật theo quy định.
2. Thực hiện Chỉ thị 21/2001/CT-TTg ngày 11/9/2001 của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư số 100/2001/TT-BTC ngày 7/12/2001 của Bộ Tài chính tất cả các cơ quan, đơn vị khi sử dụng kinh phí thuộc ngân sách Nhà nước để mua sắm tài sản, vật tư, trang thiết bị để xây dựng trụ sở cơ quan và phục vụ cho công tác quản lý hành chính thì phải mua từ các nguồn hàng được sản xuất trong nước và chỉ mua mặt hàng nhập ngoại khi mặt hàng đó trong nước không sản xuất được (trường hợp ngoại lệ báo cáo Chủ tịch UBND tỉnh xem xét, quyết định); khi mua sắm các loại tài sản từ nguồn ngân sách thì phải đảm bảo đầy đủ thủ tục theo chế độ quy định như: dự toán được duyệt, hóa đơn do Bộ Tài chính phát hành, phiếu chi do Thủ trưởng cơ quan phê duyệt. Ngoài ra nếu mua sắm các loại tài sản có giá trị từ 10 triệu đồng đến dưới 100 triệụ đồng (tính theo giá trị đơn chiếc, tài sản có tính đồng bộ mới hoạt động được thì tính theo bộ hoặc tổng giá trị tài sản cho thông báo 1 lần mua sắm trên 30 triệu đồng) ngoài các thủ tục nói trên phải có: thông báo giá của cơ quan Tài chính và Hợp đồng giữa hai cơ quan mua bán tài sản thì Kho bạc Nhà nước mới được chi trả và đơn vị mới được quyết toán. Riêng mua sắm các loại tài sản có giá trị từ 100 triệu đồng trở lên phải được sự đồng ý của UBND tỉnh, ngoài các thủ tục quy định còn phải thực hiện đấu thầu theo quy định tại Thông tư 121/2000/TT-BTC ngày 29/12/2000 của Bộ Tài chính hoặc thực hiện chỉ định thầu nếu được UBND tỉnh cho phép. Nếu thực hiện đấu thầu thì hồ sơ thủ tục phải đảm bảo theo Quy chế đấu thầu hiện hành.
Phân cấp cho cấp huyện v/v thẩm định giá hàng hóa, tài sản mua sắm từ nguồn kinh phí ngân sách thực hiện theo Công văn số 1664/CV.UB-TM ngày 21/4/2004 của UBND tỉnh.
Các cơ sở y tế công lập có sử dụng nguồn kinh phí từ ngân sách Nhà nước và các nguồn hợp pháp khác theo quy định để mua thuốc, hóa chất, dịch truyền, vật tư tiêu hao phục vụ nhu cầu khám chữa bệnh và phòng bệnh thực hiện theo Nghị định số 120/2004/NĐ-CP ngày 12/5/2004 của Chính phủ và Thông tư Liên tịch số 20/2005/TTLT-BYT-BTC ngày 27/7/2005 của Liên bộ Y tế-Tài chính.
3. Nghiêm cấm các đơn vị cấp trên huy động kinh phí của cấp dưới hoặc gửi nhiệm vụ chi xuống cấp dưới không đúng thẩm quyền. Các đơn vị cấp dưới không được chi các khoản do cấp trên yêu cầu sai chế độ.
IV - THỰC HIỆN CÔNG KHAI TÀI CHÍNH
Điều 21. Thực hiện công khai tài chính
Các cấp ngân sách Nhà nước, các đơn vị dự toán ngân sách, các tổ chức được ngân sách Nhà nước hỗ trợ, các dự án đầu tư xây dựng cơ bản có sử dụng vốn ngân sách Nhà nước, các doanh nghiệp Nhà nước, các quỹ có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước và các khoản đóng góp của nhân dân phải thực hiện công khai tài chính. Nội dung, hình thức và thời hạn công khai tài chính theo quy định tại Quyết định số 192/2004/QĐ-TTg ngày 16/11/2004 của Thủ tướng Chính phủ, Thông tư số 03/2005/TT-BTC ngày 06/1/2005 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện quy chế công khai tài chính đối với các cấp ngân sách và chế độ báo cáo tình hình thực hiện công khai tài chính.
V - KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
Điều 22.
1. Về nguyên tắc mọi khoản chi NSNN đều phải được kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ ở các khâu trước, trong và sau khi cấp phát. Tùy theo từng nội dung, tính chất của từng khoản chi để có biện pháp, phương pháp cấp phát, kiểm tra, kiểm soát phù hợp, đảm bảo cho mọi khoản chi thực hiện đúng chế độ, mục đích và tiết kiệm.
Các nhiệm vụ chi ngoài kế hoạch đã được giao đầu năm KBNN chỉ được cấp phát khi có thông báo nguồn chi của cơ quan tài chính.
2. Thực hiện tốt Thông tư 79/2003/TT-BTC ngày 13/8/2003 của Bộ Tài chính về quản lý cấp phát, thanh toán các khoản chi NSNN qua Kho bạc Nhà nước. Cơ quan KBNN chỉ được cấp phát các khoản chi theo dự toán, đúng mục lục NSNN và có đủ nguồn. Đốì với các khoản chi phát sinh ngoài dự toán phải có quyết định của Chủ tịch UBND các cấp. Cơ quan tài chính các cấp có quyền thẩm định trước khi cấp phát, nếu có vấn đề vướng mắc trong quá trình thực hiện có quyền kiến nghị để Chủ tịch UBND các cấp xem xét và giải quyết. Đơn vị thụ hưởng khoản kinh phí đột xuất phải có dự toán chi tiết các nội dung chi theo từng mục chi để cơ quan tài chính duyệt trước khi cấp phát qua Kho bạc Nhà nước. Kho bạc Nhà nước phải tổ chức kiểm soát các khoản chi ngân sách theo đúng chính sách, chế độ đúng dự toán được duyệt.
3. Giao Kho bạc Nhà nước kiểm tra lại tất cả các tài khoản hiện nay các cấp, các ngành, các đơn vị đang mở, để xóa ngay những tài khoản mở ngoài phạm vi cho phép, đồng thời hướng dẫn các đơn vị mở tài khoản theo đúng chế độ quy định. Nếu Kho bạc Nhà nước cho đơn vị mở tài khoản gây thất thoát cho ngân sách thì Kho bạc Nhà nước phải chịu hoàn toàn trách nhiệm.
Chương III
TỔ CHỨC THỰC HIỆN
Điều 23. Giám đốc các Sở, Thủ trưởng các Ban ngành cấp tỉnh, Chủ tịch UBND các huyện, thành phố, thị xã, Thủ trưởng các đơn vị liên quan chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện nội dung của Quy định này.
Trong quá trình thực hiện, có vướng mắc thì phản ánh về Sở Tài chính để tổng hợp trình UBND tỉnh xem xét, quyết định.