Quay lại

Quyết định 104/2005/QĐ-UBND về việc phê duyệt đề án: “Đẩy mạnh xác lập và thực thi quyền sở hữu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An, giai đoạn 2006 - 2010”

UBND TỈNH NGHỆ AN
-------

Số: 104/2005/QĐ-UBND

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------------------

tỉnh Nghệ An, ngày 07 tháng 11 năm 2005

QUYẾT ĐỊNH

Về việc phê duyệt đề án: “Đẩy mạnh xác lập và thực thi quyền sở hữu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An, giai đoạn 2006 - 2010”

______________

UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

Căn cứ Luật tổ chức HĐND - UBND ngày 26 tháng 11 năm 2003;

Căn cứ Quyết định số 70/2005/QĐ-UB ngày 18 tháng 7 năm 2005 về việc phê duyệt đề án: "Định hướng và các giải pháp thúc đẩy hoạt động Khoa học - Công nghệ, giai đoạn 2006-2010";

Xét đề nghị của Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tại Công văn số1094/CV-KHCN, ngày 3 tháng 11 năm 2005,

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1. Phê duyệt đề án:"Đẩy mạnh xác lập và thực thi quyền sở hữu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An, giai đoạn 2006 - 2010"do Sở Khoa học và Công nghệ xây dựng.(Có đề án chi tiết kèm theo)

Điều 2. Căn cứ vào nội dung đề án đã được phê duyệt, Sở Khoa học và Công nghệ chủ trì phối hợp với các Sở, ban, ngành liên quan tổ chức triển khai thực hiện đề án đạt kết quả tốt.

Điều3. Quyết định có hiệu lực từ ngày ký.

- Các ông: Chánh Văn phòng UBND tỉnh, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ, thủ trưởng các Sở, ban, ngành có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.

TM. UBND TỈNH NGHỆ AN

KT. CHỦ TỊCH

PHÓ CHỦ TỊCH

(Đã ký)

Nguyễn Hồng Trường

ĐỀÁN

Đẩy mạnh hoạt động xác lập và thực thi quyền sở hữu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2006 - 2010

(Ban hành kèm theo Quyết định số 104/2005/QĐ-UBND ngày 08 tháng 12 năm 2005 của UBND tỉnh Nghệ An)

I- SỰ CẦN THIẾT

Sở hữu trí tuệ (SHTT) là một nội dung quan trọng của hoạt động khoa học và công nghệ phục vụ lao động sáng tạo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người sản xuất và người tiêu dùng; chống sản xuất buôn bán hàng giả, góp phần phát triển kinh tế - xã hội.

Hội nhập kinh tế thế giới là quá trình tất yếu thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Giai đoạn 2006-2010 là thời kỳ hội nhập khi Việt Nam chính thức gia nhập WTO và hội nhập hoàn toàn vào AFTA. Vì vậy để đáp ứng những yêu cầu định chế quốc tế là vấn đề thách thức đối với bộ máy quản lý Nhà nước, các doanh nghiệp và cộng đồng xã hội, trong đó thực thi quyền Sở hữu trí tuệ là một yêu cầu thiết yếu mà chúng ta phải thích nghi và đáp ứng trong tiến trình hội nhập.

Cùng với cả nước, Nghệ An đang bưởc vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực. Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Đảng bộ khóa XV trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI (dự thảo) xác định phương hướng, mục tiêu nhiệm vụ cho thời kỳ 2006-2010 trong đó tư tưởng chỉ đạo là: “Đổi mới-hợp tác-hội nhập và tăng tốc”…, nhiệm vụ phát triển công nghiệp: có các giải pháp đột phá nhằm đưa tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp 18-19%/năm. Tập trung chỉ đạo nhóm sản phẩm có khả năng cạnh tranh trên thị trường khu vực và quốc tế: Xi măng, đường kính, sữa, dầu thực vật, bột đá trắng, vật liệu ốp lát, dệt may, chế biến hải sản..., quan tâm nhóm sản phẩm tạo nguồn thu nhập ngân sách cao: Bia, rượu, thuốc lá, sữa, lắp ráp ô tô, xe máy, hàng điện tử.

Trong những năm qua hoạt động sở hữu trí tuệ đã đạt được những kết quả nhất định: Nhận thức của xã hội về vai trò và ý nghĩa của việc bảo hộ các đối tượng sở hữu trí tuệ đã được nâng cao một bước; các đối tượng sở hữu trí tuệ được bảo hộ năm sau nhiều hơn năm trước; công tác thực thi quyền đã được triển khai, giải quyết được một số tranh chấp khiếu nại. Nhưng nhìn chung chưa đáp ứng được yêu cầu và nhiệm vụ đặt ra, còn nhiều tồn tại, yếu kém. Nhận thức của xã hội về vai trò và ý nghĩa của việc bảo hộ các đối tượng sở hữu trí tuệ đang còn ở mức thấp; các đối tượng sở hữu trí tuệ được bảo hộ còn ít chưa tương xứng với tiềm năng và nhu cầu của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất của tỉnh. Việc đảm bảo thực thi quyền sở hữu trí tuệ chỉ mới được triển khai bước đầu và chưa đạt được kết quả như mong muốn. Sự phối hợp hoạt động giữa Sở Khoa học và công nghệ và các cơ quan chức năng trong việc thực thi quyền chưa đồng bộ, hiệu quả chưa cao. Các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đang diễn ra khá phổ biến, ảnh hưởng không tốt đến việc khuyến khích các nỗ lực lao động sáng tạo, cạnh tranh lành mạnh, đến việc thu hút đầu tư và quá trình hội nhập, gây thiệt hại cho người sản xuất và người tiêu dùng, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội.

Vì vậy, việc xây dựng và triển khai thực hiện đề án nhằm đẩy mạnh hoạt động xác lập và thực thi quyền sở hữu trí tuệ trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2006-2010 góp phần nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động sở hữu trí tuệ, lao động sáng tạo khoa học và công nghệ, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa, bảo vệ quyền và lợi ích của nhà sản xuất và người tiêu dùng, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế là rất cần thiết.

Quyền sở hữu trí tuệ bao gồm quyền sở hữu công nghiệp, quyền tác giả và các quyền liên quan, quyền bảo hộ giống cây trồng... có các nội dung và tính chất riêng biệt. Đề án này chỉ đề cập nội dung hoạt động xác lập và thực thi quyền sở hữu công nghiệp (SHCN), gồm các đối tượng: sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa, tên gọi xuất xứ hàng hóa, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh, quyền chống cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới Sở Công nghiệp.

II- CÁC CƠ SỞ PHÁP LÝ VÀ THỰC TIỄN

- Bộ luật dân sự Việt Nam (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2006) thay thế Bộ luật Dân sự Việt Nam 1995.

- Chỉ thị số 18/2004/CT-BKHCN ngày 14/7/2004 của Bộ Khoa học và công nghệ về việc tăng cường công tác thực thi quyền sở hữu trí tuệ và quản lý chất lượng sản xuất, hàng hóa lưu thông trong nước và hàng hóa xuất nhập khẩu;

- Đề án “Chương trình hội nhập kinh tế quốc tế của Nghệ An đến năm 2010”, ban hành theo Quyết định số 85/2003/QĐ-UB ngày 18/9/2003 của Uỷ ban nhân dân tỉnh.

- Quyết định số 70/2005/QĐ-UB ngày 28/7/2005 của Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ An về việc phê duyệt Đề án “Định hướng và các giải pháp thúc đẩy hoạt động khoa học - công nghệ giai đoạn 2006 - 2010”;

- Kết quả hoạt động sở hữu trí tuệ ở Nghệ An trong 10 năm gần đây (1995 - 2005).

III-MỘT SỐKHÁI NIỆM, THUẬT NGỮ

3. 1.Quyền sở hữu trí tuệ:Là quyền tác giả và các quyền liên quan, quyền sở hữu công nghiệp và quyền bảo hộ giống cây trồng (dự thảo Luật sở hữu trí tuệ mới).

3. 2.Quyền sở hữu công nghiệp:Là quyền sở hữu của các cá nhân, pháp nhân đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp được Nhà nước bảo hộ (Điều 780, Bộ luật Dân sự).

3. Các đối tượng sở hữu công nghiệp được Nhà nước bảo hộgồm: Sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa, tên gọi xuất xứ hàng hóa và các đối tượng khác do pháp luật quy định, trừ các đối tượng được quy định tại Điều 787, Điều 781 - Bộ luật dân sự).

3. 4.Xác lập quyền sở hữu công nghiệp:Quyền sở hữu công nghiệp đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp được xác lập theo văn bằng bảo hộ do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp.

3. 5.Thực thi quyền:Thực hiện và thi hành đúng quyền sở hữu công nghiệp do pháp luật quy định.

3. 6.Nhãn hiệu hàng hóa:Là dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa dịch vụ cùng loại của cơ sở sản xuất, kinh doanh khác nhau. Nhãn hiệu hàng hóa có thể là chữ viết và hình ảnh được thể hiện bằng một hoặc nhiều màu sắc (Điều 785, Bộ luật dân sự).

3. 7.Tên gọi xuất xứ hàng hóa:Là tên địa lý của một nước hoặc của một địa phương, nơi mà hàng hóa được sản xuất và hàng hóa đó phải có tính chất, chất lượng đặc thù do yếu tố địa lý (tự nhiên, con người) của nước, địa phương đó quyết định (Điều 786 Bộ luật dân sự).

3. 8.Chỉ dẫn địa lý:Là tên gọi, dấu hiệu, biểu tượng hoặc hình ảnh dùng để chỉ một quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ (địa phương) được thể hiện trên hàng hóa, bao bì hay giấy tờ giao dịch mua bán hàng hóa nhằm chỉ dẫn rằng hàng hóa đó có nguồn gốc (được sản xuất ra) tại quốc gia, vùng lãnh thổ (địa phương) nói trên mà đặc trưng về chất lượng, uy tín hoặc danh tiếng của hàng hóa chủ yếu là do nguồn gốc địa lý tạo nên (Điều 10 Nghị định số 54/2000/NĐ-CP ngày 03/10/2000 của Chính phủ).

3. 9. "Thương hiệu" (Trade mark):Là một thuật ngữ mới được sử dụng trong những năm gần đây, chưa được đề cập trong hệ thống văn bản pháp luật hiện hành của Việt Nam. Theo Bộ Thương mại: “Thương hiệu" (Trade mark)là những dấu hiệu được nhà sản xuất hoặc nhà phân phối hàng hóa hoặc nhà cung ứng dịch vụ sử dụng trong thương mại nhằm ám chỉ sự liên quan giữa hàng hóa hay dịch vụ với người có quyền sử dụng dấu hiệu đó với tư cách là chủ sở hữu hoặc người đăng ký thương hiệu (Đề án Chương trình xây dựng và phát triển thương hiệu quốc gia đến năm 2010).
IV- NỘI DUNG ĐỂ ÁN

4. 1.Mục tiêu

4. 1.1. Mục tiêu tổng quát
Nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý các cấp, các ngành, các doanh nghiệp và công chúng về lợi ích và các quy định pháp luật về sở hữu công nghiệp trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế; nâng cao năng lực trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ quản lý và thực thi quyền sở hữu công nghiệp đảm bảo đủ khả năng đáp ứng các yêu cầu công tác quản lý sở hữu công nghiệp; thông qua đó, đẩy mạnh hoạt động sở hữu công nghiệp nhằm góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh.

4. 1.2. Mục tiêu cụ thể
- Từng bước hạn chế, đẩy lùi và tiến tới ngăn chặn hành vi xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp, tệ nạn hàng nhái, hàng giả về sở hữu công nghiệp, hàng sao chép lậu, mạo danh... trong lĩnh vực nghiên cứu, sáng tạo, sản xuất, lưu thông, xuất nhập khẩu.
- Phấn đấu đến năm 2010, toàn tỉnh có trên 200 đối tượng sở hữu công nghiệp được bảo hộ.

4. 2. Nhiệm vụ
Trên cơ sở đánh giá thực trạng của hoạt động sở hữu công nghiệp ở Nghệ An giai đoạn 1995 - 2005, đề xuất các nhiệm vụ và giải pháp nhằm đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả hoạt động xác lập, bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp, đưa công tác hoạt động sở hữu công nghiệp của tỉnh phát triển, đáp ứng được nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế.

4. 3.Sơlượctình hình hoạt động sở hữu công nghiệp(SHCN)ởViệt Nam giai đoạn 1995 – 2005
Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp được bắt đầu triển khai tại Việt Nam từ đầu những năm 1980, nhưng chỉ từ sau khi Quốc hội ban hành Bộ luật Dân sự (1995) thì hoạt động sở hữu công nghiệp mới thực sự bắt đầu. Cho đến nay tất cả các dạng tài sản sở hữu trí tuệ, bao gồm:
- Bản quyền tác giả,
- Quyền sở hữu công nghiệp đối với: sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa, tên gọi xuất xứ hàng hóa, chỉ dẫn địa lý...,
- Quyền bảo hộ giống cây trồng, đều được pháp luật Việt Nam thừa nhận là các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ được Nhà nước bảo hộ.
Việt Nam đã tham gia các công ước quốc tế quan trọng về sở hữu trí tuệ như: Công ước Paris về sở hữu công nghiệp, Công ước Berne về bản quyền tác giả,... Hệ thông các văn bản quy phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ của nước ta về cơ bản là đầy đủ và phù hợp với các chuẩn mực quốc tế nêu trong các Công ước quan trọng nói trên.
Cục Sở hữu trí tuệ (thuộc Bộ Khoa học và công nghệ) là cơ quan Quốc gia quản lý hoạt động sở hữu công nghiệp trong phạm vi cả nước, có thẩm quyền xét cấp văn bằng bảo hộ các đối tượng sở hữu công nghiệp, cấp phép hoạt động đại diện sở hữu công nghiệp, soạn thảo và trình cấp có thẩm quyền các dự thảo luật, chính sách về hoạt động sở hữu công nghiệp, chỉ đạo nghiệp vụ các bộ phận sở hữu công nghiệp của các địa phương (thuộc sở Khoa học và công nghệ).
Tính đến 31/3/2004 Cục Sở hữu trí tuệ đã tiếp nhận gần 125.000 đơn đăng ký các quyền sở hữu công nghiệp khác nhau, trong đó có hơn 11.000 đơn sáng chế, 13.000 đơn kiểu dáng công nghiệp và 80.000 đơn nhãn hiệu hàng hóa; đã cấp gần 70.000 văn bằng bảo hộ, trong đó có hơn 200 sáng chế, gần 8.000 kiểu dáng công nghiệp và hơn 50.000 nhãn hiệu hàng hóa. Ngoài ra còn gần 70.000 nhãn hiệu hàng hóa đăng ký theo Thỏa ước Madritd được công nhận bảo hộ ở nước ta. Như vậy, hiện nay tại Việt Nam đang có trên 140.000 đối tượng sở hữu công nghiệp được bảo hộ bởi pháp luật của Việt Nam.
Thanh tra khoa học - công nghệ (Bộ Khoa học và công nghệ) đã tích cực phối hợp với các cơ quan, ngành liên quan tiến hành nhiều đợt thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về sở hữu công nghiệp trong các doanh nghiệp nhằm nhắc nhở và nâng cao ý thức pháp luật sở hữu công nghiệp. Từ năm 1999 đến hết năm 2003, trong toàn quốc đã xử lý vi phạm hành chính đối với 252 cơ sở, trong đó áp dụng hình thức phạt tiền đối với 111 cơ sở và cảnh cáo 141 cơ sở, doanh nghiệp khác, xử lý gần 400 vụ xuất nhập khẩu vi phạm về sở hữu công nghiệp.

4. Tình hình hoạt động sở hữu công nghiệp ở Nghệ An giai đoạn 1995 – 2005

4. 1. Những kết quả đạt được
- Công tác hoạt động sở hữu công nghiệp đã được Uỷ ban nhân dân tỉnh tập trung chỉ đạo và coi là một trong những nhiệm vụ quan trọng của hoạt động khoa học và công nghệ. Sở Khoa học và công nghệ là cơ quan của Uỷ ban nhân dân tỉnh chịu trách nhiệm thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về hoạt động sở hữu công nghiệp trên địa bàn tỉnh.
- Hoạt động sở hữu công nghiệp đã được chú ý từ 10 năm nay, nhưng thực sự được quan tâm nhiều hơn trong những năm gần đây; đặc biệt từ khi Việt Nam đẩy mạnh các hoạt động nhằm mở cửa nền kinh tế, hướng kinh tế hội nhập vào khu vực và quốc tế.
- Đến tháng 6/2005, toàn tỉnh có 139 đối tượng sở hữu công nghiệp đã được nộp đơn đăng ký bảo hộ tại Cục Sở hữu trí tuệ - Bộ Khoa học và công nghệ, trong đó có 43 đối tượng sở hữu công nghiệp (gồm 41 nhãn hiệu hàng hóa, 2 kiểu dáng công nghiệp) đã được cấp văn bằng bảo hộ.
- Uỷ ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định số 104/2003/QĐ-UB ngày 8/12/2003 về cơ chế, chính sách, hỗ trợ khuyến khích doanh nghiệp ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ, đổi mới công nghệ nhằm nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm hàng hóa của Nghệ An. Trong gần hai năm thực hiện (2004 - 2005), đã có 5 doanh nghiệp xin hỗ trợ kinh phí đăng ký cấp văn bằng bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa, kiểu dáng công nghiệp; 12 doanh nghiệp áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến, 5 doanh nghiệp đăng ký xin hỗ trợ kinh phí thực hiện các đề tài, dự án khoa học-công nghệ.
- Công tác tư vấn, hướng dẫn doanh nghiệp xác lập quyền sở hữu trí tuệ (làm đơn, thiết kế lôgô,...), đăng ký bảo hộ tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền được Sở Khoa học và công nghệ, các đơn vị tư vấn ở Trung ương thực hiện phần nào đáp ứng yêu cầu của các doanh nghiệp.
- Công tác tuyên truyền phổ biến hiểu biết nhận thức pháp luật về sở hữu công nghiệp cho doanh nghiệp, cán bộ các cấp, các ngành, công chúng được thực hiện hàng năm. Trong thời gian qua có 600 lượt cán bộ quản lý các Sở, Ban, Ngành có liên quan, cán bộ quản lý khoa học và công nghệ các huyện, thị xã cửa Lò, thành phố Vinh và các doanh nghiệp được tập huấn nghiệp vụ về pháp luật sở hữu công nghiệp. Công tác thông tin tuyên truyền về sở hữu công nghiệp qua báo, đài, truyền hình, thông tin chuyên đề về sở hữu công nghiệp được quan tâm thực hiện.
Phong trào lao động sáng tạo được Uỷ ban nhân dân tỉnh quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có nền nếp từ năm 2000 đến nay. Uỷ ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định số 589/2000/QĐ-UB ngày 16/3/2000 về “Tổ chức Hội thi sáng tạo Khoa học - công nghệ Nghệ An” và Quyết định số 100/2000/QĐ-UB ngày 12/12/2000 về “Cơ chế khen thưởng đối với các thành tích lao động sáng tạo trong lĩnh vực khoa học - công nghệ trên địa bàn tỉnh Nghệ An”.
Nhằm nâng cao hơn hiệu quả lao động sáng tạo khoa học và công nghệ, Uỷ ban nhân dân tỉnh đã ban hành Quyết định 88/2005/QĐ-UB, ngày 06/10/2005 v/v Quy định xét thưởng công trình sáng tạo khoa học và công nghệ, thay thế Quyết định 589/2000/QĐ-UB ngày 16/3/2000 và Quyết định 100/2000/QĐ-UB ngày 12/12/2000.
Các cơ quan đồng tổ chức: Sở Khoa học và công nghệ, Liên đoàn Lao động tỉnh, Liên hiệp các Hội khoa học kỹ thuật và Tỉnh Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh tỉnh Nghệ An phát động và tổ chức xét thưởng hàng năm đã kịp thời tôn vinh các tài năng sáng tạo khoa học - công nghệ, khuyến khích động viên được đội ngũ cán bộ khoa học - công nghệ, người lao động áp dụng các tiến bộ khoa học - công nghệ, phát huy sáng kiến kỹ thuật trong sản xuất thực sự làm lợi về kinh tế rất đáng kể cho các doanh nghiệp.
Trong 5 năm qua đã có 118 công trình lao động sáng tạo khoa học - công nghệ được khen thưởng. Các hoạt động lao động sáng tạo khoa học - công nghệ như ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ mới mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội trong sản xuất kinh doanh và dịch vụ, ứng dụng các giải pháp đổi mới phương pháp dạy và học nâng cao kết quả học tập, các giải pháp khám và chữa bệnh cho nhân dân mang lại hiệu quả cao hơn; các sáng kiến cải tiến kỹ thuật được phát huy áp dụng trong sản xuất mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội đều được khuyến khích và xét khen thưởng. Ngành có nhiều công trình tham gia và đạt giải thưởng nhất là: Giáo dục - đào tạo, Nông nghiệp và phát triển nông thôn, y tế.
Công tác thực thi quyền sở hữu công nghiệp ở tỉnh ta được quan tâm nhiều hơn trong những năm gần đây. Công tác kiểm tra, thanh tra xử lý nạn sản xuất, lưu thông, buôn bán hàng giả, hàng nhái được các cấp các ngành, phối hợp thực hiện ngày càng tốt hơn. Hiện nay, ở cấp tỉnh có ban chỉ đạo 127 do đồng chí lãnh đạo Uỷ ban nhân dân tỉnh làm trưởng ban, Chi cục quản lý thị trường Nghệ An là cơ quan thường trực và các ngành: Thương mại, Khoa học và công nghệ, Công an, Hải quan, Bộ đội biên phòng, Công nghiệp, Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Thủy sản... Lãnh đạo Uỷ ban nhân dân các huyện, thị xã cửa Lò, thành phố Vinh tham gia. Hoạt động thanh tra, kiểm tra chuyên ngành khoa học - công nghệ được thực hiện thường xuyên và có sự phối hợp giữa Sở Khoa học và công nghệ và các huyện, thị xã Cửa Lò, thành phố Vinh. Qua các kỳ, đợt kiểm tra, thanh tra đã xử lý kịp thời và ngăn chặn có hiệu quả việc buôn bán hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng. Số vụ vi phạm được xử lý hàng năm có đến hàng trăm. Trong thời gian qua, có 2 vụ tranh chấp về quyền sở hữu công nghiệp: vi phạm nhãn hiệu hàng hóa Mực “Thiên Long”; vi phạm nhãn hiệu hàng hóa “Bột canh Thiên Hương” (2003). Các sai phạm đã được phát hiện, xử lý kịp thời, bảo vệ quyền lợi nhà sản xuất và người tiêu dùng.

4. 2. Những tồn tại, yếu kém
- Công tác đăng ký, xác lập, đăng ký bảo hộ các đối tượng sở hữu công nghiệp đã đạt được những kết quả nhất định bước đầu. Tuy nhiên, hiện nay trên địa bàn tỉnh ta có 29.450 doanh nghiệp, cơ sở sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp nhưng chỉ mới có 43 đối tượng sở hữu công nghiệp được cấp văn bằng bảo hộ là quá nhỏ bé. Đó là hệ quả của một nền kinh tế kém phát triển, cần phải nỗ lực phấn đấu rất nhiều mới đáp ứng được yêu cầu và kết quả như mong muốn. Mặt khác, hiện nay vẫn chưa xây dựng được chiến lược và kế hoạch hỗ trợ các doanh nghiệp xây dựng, quảng bá, phát triển các đối tượng sở hữu công nghiệp và thương hiệu.
- Công tác thực thi quyền sở hữu công nghiệp mới được triển khai bước đầu, chưa đáp ứng và đạt kết quả như mong muốn; chưa có sự phối hợp chặt chẽ và thường xuyên giữa các cấp, các ngành và các cơ quan chức năng trong việc thực thi quyền sở hữu công nghiệp; Việc thanh tra, giám sát việc thi hành pháp luật về sở hữu công nghiệp còn bị động, mang tính nhất thời, chỉ khi xẩy ra tranh chấp mới tổ chức thanh tra, xử lý.
- Các doanh nghiệp có các đối tượng sở hữu công nghiệp được bảo hộ chưa đầu tư, chưa chủ động bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình. Trình độ nhận thức của công chúng về các chính sách pháp luật sở hữu công nghiệp đã được nâng cao một bước, nhưng vẫn đang còn ở trình độ thấp.
- Công tác tham mưu ban hành văn bản quản lý, cụ thể hóa việc thi hành các chính sách, pháp luật của Nhà nước về sở hữu công nghiệp và lập kế hoạch và tổ chức thực hiện phát triển hoạt động sở hữu công nghiệp ở địa phương còn yếu. Chưa lập được kế hoạch phối hợp ngắn hạn và dài hạn, phương pháp phòng chống các hành vi vi phạm quyền, tệ nạn làm hàng nhái, hàng giả về sở hữu công nghiệp.
- Công tác tổ chức tuyên truyền các chính sách về sở hữu công nghiệp, phối hợp với các tổ chức xã hội thực hiện các biện pháp đẩy mạnh phong trào thi đua sáng tạo và hoạt động sở hữu công nghiệp đã đạt được một số kết quả nhất định nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ như mong muốn. Việc tuyên truyền phổ biến, hướng dẫn thực thi pháp luật về sở hữu công nghiệp trên các phương tiện thông tin đại chúng (phát thanh, truyền hình, báo...) đang còn rất hạn chế.
- Công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ cho cán bộ quản lý và thực thi quyền sở hữu công nghiệp thực hiện chưa được nhiều,chưa có kế hoạch.

4. 3.Nguyên nhân của tồn tại yếu kém
- Nền kinh tế sản xuất hàng hóa của tỉnh nói chung và hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ của các doanh nghiệp, đơn vị sản xuất trong tỉnh đang ở mức còn yếu.
- Nhận thức hiểu biết của các doanh nghiệp, công chúng và lãnh đạo các cấp các ngành về các chính sách và pháp luật sở hữu công nghiệp, về lợi ích, tính tất yếu của nền sản xuất hàng hóa gắn với bảo vệ hộ sở hữu công nghiệp trong kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế còn hạn chế.
- Hệ thống văn bản pháp luật về sở hữu công nghiệp chưa được cụ thể hóa phù hợp với điều kiện của địa phương.
- Năng lực của các cơ quan có liên quan đến quản lý Nhà nước về sở hữu công nghiệp (Sở Khoa học và công nghệ, Thương mại, Hải quan, Thanh tra,...) còn hạn chế, mỏng về tổ chức, thiếu về cán bộ.
- Phần lớn các doanh nghiệp chưa hiểu rõ được lợi ích và giá trị tài sản sở hữu trí tuệ là một bộ phận cấu thành của tài sản doanh nghiệp. Các doanh nghiệp thường không có bộ phận chăm lo phát triển tài sản trí tuệ, thường thụ động, lúng túng khi đối mặt với các tình huống về xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp dẫn đến tình trạng tài sản trí tuệ có giá trị bị người khác chiếm đoạt do không đăng ký bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp. Rất nhiều doanh nghiệp sử dụng các đối tượng sở hữu công nghiệp nhưng không tra cứu, tìm hiều kỹ dẫn đến xâm phạm quyền của người khác. Đặc biệt một số doanh nghiệp lấy việc sao chép các kiểu dáng, nhãn hiệu các doanh nghiệp khác làm phương thức hoạt động thường xuyên của mình.
- Trên địa bàn tỉnh thiếu cơ quan tư vấn có đủ năng lực giúp doanh nghiệp xác lập thực thi quyền sở hữu công nghiệp.

4. 5.Định hướng nhiệm vụ hoạt động xác lập và thực thi quyền sở hữu công nghiệp ở Nghệ An giai đoạn 2006-2010
- Hoạt động sở hữu công nghiệp trong những năm tới cần phải được quan tâm và đẩy mạnh hoạt động đồng bộ, mạnh mẽ hơn. Nó không những là hoạt động tự thân, sống còn của doanh nghiệp nhằm xây dựng và quảng bá, phát triển “thương hiệu” của mình, nâng cao sức cạnh tranh sản phẩm hàng hóa của Nghệ An mà còn là nhiệm vụ của các cấp, các ngành, của các tầng lớp nhân dân Nghệ An vì một nền sản xuất hàng hóa, một nền kinh tế - xã hội phát triển tạo đà cho Nghệ An thoát nghèo và hội nhập kinh tế quốc tế.
- Phấn đấu đến 2010 Nghệ An có trên 200 đối tượng sở hữu công nghiệp được bảo hộ và phát triển, trong đó, ngoài 43 đối tượng sở hữu công nghiệp đã được bảo hộ, phải phấn đấu bình quân mỗi năm có trên 30 đối tượng sở hữu công nghiệp được bảo hộ.
- Đẩy mạnh hoạt động bảo vệ, thực thi quyền sở hữu công nghiệp gắn với các hoạt động chống buôn bán, sản xuất, kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lượng, buôn lậu;...; ngăn chặn và xử lý kịp thời các vi phạm về sở hữu công nghiệp, hàng nhái, hàng giả nhãn hiệu hàng hóa, kiểu dáng công nghiệp, “thương niệu”,.... làm cho thị trường sản xuất kinh doanh lành mạnh, bảo vệ được quyền lợi của người sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và người tiêu dùng qua đó thúc đẩy nền kinh tế tỉnh ta phát triển.

4. 6.Các giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động xác lập và thực thi quyền sở hữu công nghiệp trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2006 - 2010

4. 6.1. Tăng cường công tác đào tạo, nâng cao nhận thức, hiểu biết cho đội ngũ cán bộ quản lý Nhà nước các cấp, các ngành, cho công chúng; doanh nhân về các chính sách, pháp luật sở hữu công nghiệp và lợi ích, giá trị của tài sản sở hữu trí tuệ, từng bước đưa hoạt động sở hữu công nghiệp trở thành mối quan tâm thường xuyên và là một bộ phận của hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.

a) Có kế hoạch thường niên về các chương trình đào tạo, tập huấn nâng cao nghiệp vụ về hoạt động và quản lý hoạt động sở hữu công nghiệp cho cán bộ doanh nghiệp và các cấp, các ngành.

b) Cải tiến hình thức và nội dung, tăng số lượng “Thông tin chuyên đề sở hữu công nghiệp”, hình thức đẹp, trang nhã, nội dung đa dạng, phong phú, bài viết có tính chuyên môn cao, đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi thực tế và có hiệu quả.

c) Xây dựng và tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng: Báo, Đài phát thanh, truyền hình, Internet, tạp chí, băng hình,... nhằm phổ biến, hướng dẫn xác lập, thực thi quyền sở hữu công nghiệp, giới thiệu quảng bá các thương hiệu có uy tín phục vụ phát triển sản xuất kinh doanh.

d) Đưa nội dung, thông tin hoạt động sở hữu công nghiệp trên trang Website của tỉnh Nghệ An.

4. 6.2. Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, cụ thể hóa việc thi hành các chính sách của Nhà nước về sở hữu công nghiệp phù hợp điều kiện thực tế của địa phương và tổ chức thực hiện các văn bản đó:

a) Xây dựng và ban hành “Quy chế quản lý Nhà nước về hoạt động sở hữu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An”, trong đó làm rõ cơ chế phối hợp, liên kết hoạt động giữa các cơ quan thực thi quyền sở hữu công nghiệp và các cấp, các ngành, các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh.

b) Nghiên cứu bổ sung chính sách khuyến khích doanh nghiệp đăng ký, xác lập và thực thi quyền sở hữu công nghiệp trên địa bàn tỉnh.

4. 6.3. Xây dựng và thực hiện chương trình hỗ trợ hoạt động xác lập, bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp, phát triển tài sản sở hữu trí tuệ, phấn đấu thực hiện mục tiêu đến 2010 toàn tỉnh có hơn 200 đối tượng sở hữu công nghiệp được bảo hộ, trong đó có 2 đối tượng sở hữu công nghiệp là xuất xứ hàng hóa hoặc nhãn hiệu tập thể.

a) Mục tiêu hàng năm:
- Năm 2006: 20 đối tượng sở hữu công nghiệp được bảo hộ;
- Năm 2007: 20 đối tượng sở hữu công nghiệp được bảo hộ;
- Năm 2008: 30 đối tượng sở hữu công nghiệp được bảo hộ;
- Năm 2009: 40 đối tượng sở hữu công nghiệp được bảo hộ;
- Năm 2010: 50 đối tượng sở hữu công nghiệp được bảo hộ

b) Lập và triển khai thực hiện các dự án:
- Xây dựng, quảng bá và phát triển “thương hiệu” Cam Vinh
- Xây dựng, quảng bá và phát triển “thương hiệu” Nước mắm Vạn Phần.

4. 6. Nâng cao năng lực thực thi pháp luật sở hữu công nghiệp cho các cơ quan chức năng: Sở Khoa học và công nghệ, Thương mại, Công an, Hải quan, Thanh tra, Công nghiệp, Xây dựng, Giao thông vận tải, Nông nghiệp và phát triển nông thôn, thủy sản, và các ngành khác.
- Thành lập Ban chỉ đạo liên ngành gồm 1 đồng chí Phó chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh làm Trưởng ban, Giám đốc Sở Khoa học và công nghệ làm Phó trưởng ban thường trực và đại diện lãnh đạo các ngành có liên quan làm thành viên được phân công nhiệm vụ cụ thể theo chức năng, nhiệm vụ do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định. Ban chỉ đạo có các tổ chuyên viên chuyên môn giúp việc.
Ban chỉ đạo hoạt động thường xuyên theo chương trình, kế hoạch công tác cụ thể hàng năm.
- Cán bộ thực thi quyền sở hữu công nghiệp ở các ngành liên quan được tập huấn nghiệp vụ thường niên nhằm đảm bảo đủ năng lực tham mưu cho Ban chỉ đạo, Lãnh đạo ngành các giải pháp cần thiết để từng bước hạn chế, đẩy lùi tệ nạn xâm phạm quyền sử hữu công nghiệp (hàng nhái, hàng giả, hàng sao chép lậu, mạo danh...) trong các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lưu thông hàng hóa trong tỉnh và hàng hóa xuất nhập khẩu.
- Tổ chức kiểm tra, thanh tra chuyên ngành, liên ngành thường kỳ hoặc đột xuất nhằm ngăn chặn, xử lý kịp thời các hành vi vi phạm quyền sở hữu công nghiệp.
- Xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin sở hữu công nghiệp (về nhãn hiệu hàng hóa, kiểu dáng công nghiệp,...) phục vụ cho công tác xác lập, đăng ký bảo hộ và thực thi quyền sở hữu công nghiệp.
Đưa lên Website các thông tin sở hữu công nghiệp dành cho các doanh nghiệp.
- Thiết lập mạng thông tin sở hữu công nghiệp giữa Cục Sở hữu trí tuệ và Sở Khoa học và công nghệ Nghệ An.
- Kiện toàn bộ phận chuyên viên sở hữu công nghiệp thuộc Sở Khoa học và công nghệ đủ năng lực tham mưu cho cơ quan thường trực về sở hữu công nghiệp của tỉnh: bổ sung cán bộ chuyên môn có ít nhất 2-3 chuyên viên, có trang thiết bị văn phòng cần thiết đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao.
- Thành lập tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp (bổ sung chức năng nhiệm vụ cho Trung tâm ứng dụng tiến bộ khoa học-công nghệ thuộc Sở khoa học và công nghệ) có đủ năng lực để trợ giúp doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ xác lập, quảng bá, phát triển thương hiệu.

4. 7.Thời gian thực hiện
Thời gian thực hiện Đề án: 5 năm, từ năm 2006 đến 2010.

4. 8.Nguồn kinh phí thực hiện
-Kinh phí ngân sách sự nghiệp khoa học - công nghệ hàng năm của tỉnh.
- Kinh phí từ Quỹ phát triển khoa học và công nghệ tỉnh Nghệ An
- Kinh phí của các doanh nghiệp các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ;
- Kinh phí hỗ trợ từ Bộ khoa học và công nghệ thông qua các chương trình, đề án, dự án khoa học - công nghệ và nguồn khác.
V. TỔ CHỨC THỤC HIỆN
Để thực hiện tốt mục tiêu, nội dung của Đề án, UBND tỉnh giao cho các Sở, Ban, Ngành và các đơn vị có liên quan thực hiện các nhiệm vụ sau đây:

5. 1. Sở Khoa học và Công nghệ Nghệ An:
-Là cơ quan chủ trì thực hiện Đề án: căn cứ vào tình hình thực tế và sự cần thiết của các nội dung, nhiệm vụ và giải pháp, lập kế hoạch cụ thể cho từng năm và cho từng giai đoạn để thực hiện.
- Phối hợp với Sở Tư pháp và các Sở, Ban Ngành liên quan soạn thảo “Quy chế quản lý Nhà nước về hoạt động sở hữu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An”, và nghiên cứu bổ sung chính sách khuyến khích doanh nghiệp đăng ký, xác lập, bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp trình Uỷ ban nhân dân tỉnh xem xét quyết định.
- Kiện toàn bộ phận chuyên môn về sở hữu công nghiệp của Sở Khoa học và công nghệ đảm bảo đủ năng lực tham mưu, tư vấn giúp Ban chỉ đạo tỉnh và các doanh nghiệp trong hoạt động xác lập, bảo vệ và thực thi quyền sở hữu công nghiệp; hướng dẫn các doanh nghiệp về thủ tục, hồ sơ đăng ký bảo hộ các đối tượng sở hữu công nghiệp, tránh nhầm lẫn với nhãn hiệu hàng hóa đang được bạo hộ và nhãn sản phẩm.
- Chỉ đạo Trung tâm ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ thành lập “Tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu công nghiệp” đủ năng lực đáp ứng nhu cầu trợ giúp các doanh nghiệp trong việc xác lập, bảo vệ, thực thi quyền sở hữu công nghiệp;
- Chỉ đạo Chi cục Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng hướng dẫn thủ tục, hồ sơ đăng ký chất lượng tránh nhầm lẫn giữa nhãn sản phẩm và nhãn hiệu hàng hóa được bảo hộ.
- Phối hợp với các Sở, Ban, Ngành, đơn vị liên quan xây dựng chương trình hỗ trợ hoạt động xác lập và thực thi quyền sở hữu công nghiệp, phát triển tài sản sở hữu trí tuệ đến năm 2010.
- Phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Thủy sản Nghệ An xây dựng và tổ chức thực hiện các dự án:
(i) Xây dựng, quảng bá và phát triển “thương hiệu” Cam Vinh;
(ii) Xây dựng, quảng bá và phát triển “thương hiệu” nước mắm Vạn Phần.
- Phối hợp Sở Văn hóa thông tin, Đài phát thanh và Truyền hình Nghệ An, Báo Nghệ An và các cơ quan thông tin đại chúng khác thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền phổ biến nhằm nâng cao nhận thức, hiểu biết về pháp luật sở hữu công nghiệp cho cán bộ quản lý, người sản xuất kinh doanh, dịch vụ, tiểu thương buôn bán và người tiêu dùng;

5. 2. Sở Tài chính chủ trì, phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư và Sở Khoa học và công nghệ cân đối kinh phí đủ để triển khai thực hiện Đề án theo kế hoạch và tiến độ đề ra.

5. 3. Sở Kế hoạch và đầu tư chủ trì, phối hợp với Sở Khoa học và công nghệ và các ngành hướng dẫn các tổ chức, cá nhân trong việc đăng ký, sử dụng tên doanh nghiệp phù hợp, tránh vi phạm quyền sở hữu trí tuệ đối với tên thương mại.

5. 4. Sở Thương mại (Chi cục Quản lý thị trường) phối hợp với Sở Khoa học và công nghệ, Công An, Tòa án, Hải quan tỉnh, các ngành và UBND các huyện, thành phố Vinh, thị xã Cửa Lò thực hiện các biện pháp thực thi quyền sở hữu công nghiệp; tổ chức kiểm tra, thanh tra, kiểm soát việc tuân thủ pháp luật và xử lý vi phạm, xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp nhằm bảo vệ quyền lợi của người sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và người tiêu dùng.

5. Các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, các chủ sở hữu, các đối tượng sở hữu công nghiệp trên địa bàn tỉnh có trách nhiệm thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình và quy định của pháp luật trong việc xác lập, bảo vệ, thực thi quyền đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp.

5. 6. Các Sở, Ban, Ngành, đơn vị liên quan, Uỷ ban nhân dân các huyện, Thị xã Cửa Lò, thành phố Vinh, các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, dịch vụ,... căn cứ chức năng, nhiệm vụ được phân công chủ động tổ chức xây dựng kế hoạch cụ thể của mình và tổ chức triển khai thực hiện tốt nhiệm vụ được đề ra.
Trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện, nếu có những khó khăn, vướng mắc và những nhiệm vụ phát sinh cần thiết theo yêu cầu thực tế, kịp thời phản ánh về Sở khoa học và công nghệ để tổng hợp trình Uỷ ban nhân dân tỉnh xem xét giải quyết.

Tổng quan văn bản

Số ký hiệu104/2005/QĐ-UBND
Ngày ban hành07/11/2005
Loại văn bảnQuyết định
Ngày có hiệu lực07/11/2005
Nguồn thu thậpCơ sở dữ liệu
Ngày đăng công báo---
Cơ quan ban hành / Người kýUBND tỉnh Nghệ An / Nguyễn Hồng Trường
Phạm viNghệ An
Trích yếuVề việc phê duyệt đề án: “Đẩy mạnh xác lập và thực thi quyền sở hữu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Nghệ An, giai đoạn 2006 - 2010”
Tình trạng hiệu lựcCòn hiệu lực

Chưa có thông tin lược đồ

Văn bản này hiện chưa được cập nhật dữ liệu về lược đồ liên quan.