Quay lại

Quyết định 07/2005/QĐ-UB về việc ban hành Đề án Tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ, đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trên địa bàn tỉnh Nghê An từ năm 2005 đến năm 2010

UBND TỈNH NGHỆ AN
-------

Số: 07/2005/QĐ-UB

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------------------

tỉnh Nghệ An, ngày 13 tháng 01 năm 2005

QUYẾT ĐỊNH CỦA UBND TỈNH NGHỆ AN

Về việc ban hành Đề án Tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ, đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trên địa bàn tỉnh Nghê An từ năm 2005 đến năm 2010

_________________

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND ngày 26/11/2003;

- Căn cứ Quyết định số 13/2003/QĐ-TTg ngày 17/01/2003 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật từ năm 2003 - 2007; Quyết định số 212/2004/QĐ-TTg ngày 16/12/2004 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình Hành động quốc gia phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho cán bộ, nhân dân ở xã, phường, thị trấn từ năm 2005 đến năm 2010.

- Xét đề nghị của các ông: Chánh Văn phòng UBND tỉnh; Giám đốc Sở Tư pháp và Trưởng ban Dân tộc tỉnh.

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1. Ban hành Đề án Tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ, đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trên địa bàn tỉnh Nghệ An từ năm 2005 đến năm 2010.

Điều 2. Giao cho Hội đồng phối hợp công tác phổ biến giáo dục pháp luật của tỉnh, Sở Tư pháp, Ban Dân tộc tỉnh; UBND các huyện miền núi và UBND các huyện có xã miền núi; các Sở, Ban ngành, tổ chức đoàn thể có liên quan xây dựng kế hoạch tổ chức triển khai thực hiện Đề án đảm bảo tiến độ, chất lượng, hiệu quả phù hợp với đặc điểm, tình hình của tỉnh

Điều 3. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký.

Các ông Chánh văn phòng UBND tỉnh, Giám đốc Sở Tư pháp, Trưởng Ban Dân tộc tỉnh Nghệ An, Giám đốc Sở Tài chính, Giám đốc các Sở, Thủ trưởng các Ban ngành cấp tỉnh, Chủ tịch UBND các huyện miền núi và các UBND các huyện có xã miền núi chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.

TM. UBND TỈNH NGHỆ AN

CHỦ TỊCH

(Đã ký)

Nguyễn Thế Trung

ĐỀ ÁN

Tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ,

đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trên địa bàn tỉnh Nghệ An

từ năm 2005 đến năm 2010.

(Ban hành kèm theo Quyết định số 07/2005/QĐ.UB ngày 13/1/2005 của UBND tỉnh Nghệ An)

Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, các cấp, các ngành, các đoàn thể đã tập trung triển khai thực hiện tốt Chỉ thị số 02/1998/CT-TTg và Quyết định số 03/1998/QĐ- TTg ngày 7/1/1998 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong giai đoạn hiện nay. Đặc biệt là sau khi Ban Thường vụ Tỉnh ủy Nghệ An ban hành Chỉ thị số 13-CT/TU ngày 28/7/ 2003 và Kết luận số 14-KL/TU ngày 28/7/ 2003 về Tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng đối với công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong giai đoạn hiện nay trên địa bàn Nghệ An thì công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đã tạo được sự chuyển biến tích cực ở các ngành, các cấp góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật trong cán bộ và nhân dân. Tuy nhiên, đến nay vẫn còn một bộ phận cán bộ, nhân dân thiếu hiểu biết pháp luật, đặc biệt là đồng bào các dân tộc thiểu số, miền, núi, vùng sâu, vùng xa.

Để tiếp tục triển khai thực hiện Chỉ thị số 32/CT-TW ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân; Chỉ thị số 02/1998/CT-TTg và Quyết định số 03/1998/ QĐ-TTg ngày 7/1/1998 của Thủ tướng Chính phủ; Quyết định số 13/2003/QĐ-TTg ngày 17/01/2003 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật từ năm 2003 đến năm 2007; Chỉ thị số 13-CT/TU và Kết luận số 14-KL/TU ngày 27/ 8/2003 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy nhằm nâng cao hiểu biết pháp luật cho cán bộ và nhân dân, đặc biệt là cho đồng bào các dân tộc miền núi vùng sâu, vùng xa, UBND tỉnh xây dựng đề án: "Tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ, dân tộc thiểu số và miền núi trên địa bàn tỉnh Nghệ An từ năm 2005 đến năm 2010" như sau:

PHẦN THỨ NHẤT

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHỔ BIẾN GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO CÁN BỘ ĐỒNG BÀO CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ MIỀN NÚI Ở NGHỆ AN TRONG THỜI GIAN QUA

I - TÌNH HÌNH, ĐẶC ĐIỂM CỦA NGHỆ AN

Nghệ An là địa bàn chiến lược quan trọng về quốc phòng - an ninh của cả nước, luôn là mục tiêu chống phá quyết liệt của kẻ thù trong chiến lược "Diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ. Trong những năm gần đây, trên địa bàn của tỉnh đã và đang xuất hiện nhiều vấn đề phức tạp, chứa đựng nhiều yếu tố tiềm ẩn gây mất ổn định, nhất là trên tuyến biên giới, vùng trọng điểm về quốc phòng an ninh, những vấn đề mới phát sinh trong các lĩnh vực an ninh nội bộ, an ninh kinh tế, an ninh tư tưởng văn hóa, cùng với sự gia tăng các loại tội phạm hình sự và tệ nạn xã hội... đang đặt ra cho nhiệm vụ quốc phòng - an ninh những yêu cầu mới.

Nghệ An có tổng diện tích: 16.480km2 chiếm 38% diện tích Bắc Trung bộ và gần 6% diện tích cả nước. Miền núi và trung du Nghệ An chiếm 83,6% diện tích tự nhiên của tỉnh, 10/19 huyện miền núi (Kỳ Sơn, Tương Dương, Con Cuông, Anh Sơn, Tân Kỳ, Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn, Thanh Chương), có 212 xã, 201.368 hộ gia đình, dân số 1.104.208 ngươi, gồm các dân tộc: Thanh, Thái, Mông, Khơ Mú, Ơ đu, Tày Poọng, Đan Lai, Thổ, Kinh sinh sống, trong đó có 115 xã được xếp vào loại đặc biệt khó khăn (theo chương trình 135). Dân cư được chia thành hai vùng khác nhau là vùng núi thấp và vùng núi cao:

Vùng núi cao: Có 6 huyện (Kỳ Sơn, Tương Dương, Con Cuông, Quỳ Hợp, Quỳ Châu, Quế Phong) gồm 101 xã, 1096 thôn, bản chủ yếu là dân tộc Mông, Khơ Mú, Ơ đu, trong đó có cả người Kinh, Thái sinh sống.

Vùng núi thấp: Có 4 huyện (Thanh Chương,Tân Kỳ, Anh Sơn, Nghĩa Đàn) gồm 111 xã, 1252 thôn, bản, chủ yếu là dân tộc: Thái, Thổ và Kinh sống đan xen.

Địa bàn có người dân tộc thiểu số sinh sống gồm 128 xã, với 1090 bản, trong đó 225 bản có nhiều dân tộc cộng cư đan xen. Tỉnh ta có đường biên giới dài 419 km, nằm ven 6 huyện (Thanh Chương, Anh Sơn, Con Cuông, Tương Dương, Kỳ Sơn, Quế Phong) với 27 xã biên giới với 8 dân tộc chung sống. như: Kinh, Thái, Thanh, Mông, Khơ Mú, Tày Poọng, Thổ, Đan Lai. Đặc biệt là dân tộc Ơ đu ở Nghệ An sống trên vùng núi cao, hiện có 580 người chủ yếu cư trú tại huyện Tương Dương, đông nhất ở xã Kim Đa có 61 hộ, 289 khẩu. Dân tộc Mông có khoảng 2,7 vạn người chiếm 6,16% dân số các dân tộc thiểu số trong tỉnh, chiếm 0,8% dân số của tỉnh và 4,1% số người Mông trong cả nước. Người Mông sông tập trung ở 3 huyện Kỳ Sơn, Tương Dương, Quế Phong trên miền núi cao dọc theo biên giới Việt Lào trong điều kiện tự nhiên và khí hậu khắc nghiệt. Do địa bàn miền núi rộng, đường giao thông đi lại khó khăn, có những vùng chưa có đường ô tô vào được bản, làng (có nhiều xã cách xa trung tâm huyện từ 60 đến 80 km như xã Mỹ Lý, Keeng Đu, Na Ngoi, Nậm Cắn, Bảo Thắng của huyện Kỳ Sơn, hay các xã Nhôn Mai, Mỹ Lý, Mai Sơn của huyện Tương Dương phải đi từ 70 đến 80km đường thủy), trong khi đó người dân không nói được tiếng Kinh mà sử dụng tiếng nói riêng của dân tộc mình trong quá trình giao tiếp, sinh hoạt; việc phủ sóng các kênh thông tin chưa đáp ứng, điện thắp sáng chưa đến với nhiều làng, bản vùng cao, tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào nhà nước còn rất nặng nề. Với tình hình đặc điểm như vậy nên công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đối với miền núi, dân tộc, vùng sâu, vùng xa, thực sự gặp nhiều khó khăn. Do vậy, tỉnh Nghệ An coi việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đối với miền núi không chỉ là nhiệm vụ thường xuyên mà là một nhiệm vụ có tính chiến lược lâu dài nhằm nâng cao dân trí pháp lý cho đồng bào miền núi, vùng sâu, vùng xa, góp phần ngăn chặn âm mưu "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch đối với đồng bào miền núi, để nhân dân tăng thêm niềm tin đối với Đảng, Nhà nước ta.

II - THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT VÀ TRÌNH ĐỘ HIỂU BIẾT, CHẤP HÀNH PHÁP LUẬT CỦA ĐỔNG BÀO CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ MIỀN NÚI.

1. Thực trạng về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.

1.1. Tổ chức cán bộ tham mưu về công tác phổ biến, giáo due pháp luật.

a) Ở cấp huyện:

Theo hướng dẫn của Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của tỉnh, UBND các huyên, thành phố, thị xã (trong đó có các huyện miền núi) đều thành lập Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở cấp mình do đồng chí Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch UBND huyện làm Chủ tịch Hội đồng và đồng chí Trưởng phòng Tư pháp làm Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng, Hội đồng có số thành viên đông nhất là 24 người (huyện Tương Dương), có số thành viên ít nhất là: 10 người (huyện Con Cuông). Hội đồng cũng lập các Ban với thành phần đại diện cho các ban ngành, đoàn thể cấp huyện để triển khai công tác phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật trên từng lĩnh vực cụ thể.

- Đến tháng 7 năm 2001, khi Phòng Tư pháp giải thể, công tác tư pháp được chuyển giao cho Văn phòng HĐND, UBND huyện thực hiện.

- Về trình độ chuyên môn: Các cán bộ làm công tác tư pháp huyện có tổng số 24 người (trong đó cán bộ Tư pháp chuyên trách chỉ có 1 - 2 người và Chánh Văn phòng hoặc Phó Văn phòng phụ trách chung), có trình độ đại học là 19 người, chiếm tỷ lệ 79,1%, trình độ trung cấp là 5 người chiếm tỷ lệ 20,8%.

- Về đội ngũ báo cáo viên pháp luật cấp huyện: Tổng số báo cáo viên pháp luật của 10 huyện miền núi có 245 người được cơ cấu ở các tổ chức đoàn thể, cơ quan Tuyên giáo, Phòng Giáo dục, Công an, Tư pháp huyện. Có 10/10 huyện miền núi thành lập tổ trợ giúp pháp lý với 67 cộng tác viên trong đó có 58 người có trình độ đại học và 9 người có trình độ trung cấp.

b) Ở cấp xã :

Để đảm bảo triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở cơ sở hầu hết các xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh đã thành lập Ban phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật do đồng chí Phó Chủ tịch UBND cấp xã làm Trưởng ban, cán bộ Tư pháp - Hộ tịch là thành viên thường trực. Trong tổng số 212 xã miền núi đều đã thành lập Ban phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.

- Đội ngũ cán bộ Tư pháp xã có 212 người trong đó có trình độ trung cấp pháp lý 39 người, có trình độ cao đẳng 2 người, có trình độ đại học 18 người, 47 người đang theo học lớp trung cấp luật và 101 người chưa được đào tạo.

- Đội ngũ tuyên truyền viên cấp xã các huyện miền núi có tổng số 1271 người, bình quân 6 người/1 xã, bạo gồm cán bộ Tư pháp xã và cán bộ của các tổ chức như Mặt trận, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Nông dân làm công tác tuyên truyền pháp luật nhưng trên thực tế ở cấp xã, cán bộ Tư pháp và Mặt trận là lực lượng chủ yếu tham gia phổ biến pháp luật (424/1271 người, tỷ lệ 33,35%).

c) Ở thôn, bản:

Tổ chức hoạt động hòa giải các huyện miền núi hiện có 2351 tổ hòa giải, mỗi thôn bản có 1 tổ hòa giải gồm 3 đến 5 hòa giải viên do Trưởng ban Mặt trận hoặc trưởng thôn, bản làm tô trưởng. Thông qua hoạt động hòa giải đã góp phần rất lớn trong việc giải quyết các tranh chấp, mâu thuẫn phát sinh trong nội bộ nhân dân, là phương thức tuyên truyền pháp luật có hiệu quả ở cơ sở lâu nay.

1.2. Thực trạng về công tác phổ biến giáo dục pháp luật.

a) Hình thức và phương pháp phổ biến, giáo dục pháp luật chủ yếu trong thời gian qua:

- Tổ chức hội nghị cho cán bộ chủ chốt các cấp:

Đây là việc giúp cho cán bộ chủ chốt các cấp, các ngành hiểu và vận dụng đúng các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước vào thực tế công tác. Trên thực tế các huyện miền núi chưa làm phương pháp này kịp thời, thường xuyên. Mặt khác, cách làm này chủ yếu đối với đối tượng là cán bộ chủ chốt, nếu không có các bước triển khai tiếp theo kiến thức pháp luật vẫn không đến được với người dân. Hơn nữa do hoàn cảnh điều kiện sinh sống, đường đi lại khó khăn nên có bản cả năm không họp được dân, không một lần được phổ biến, giáo dục pháp luật.

- Hình thức phổ biến trên các phương tiện thông tin của xã:

Ở vùng núi thấp, có điều kiện phát triển hệ thống truyền thanh của xã nên phương pháp này phát huy được tác dụng. Còn ở địa bàn vùng núi cao, dân cư các thôn, bản vùng xa xôi hẻo lánh do hệ thông truyền thanh, truyền hình không đến được nên không sử dụng được phương pháp này. Cụ thể, 10 huyện miền núi có 56 xã chưa có loa truyền thanh, truyền hình huyện mới chỉ phủ sóng 67,3%.

- Hoạt động trợ giúp pháp lý: Đây là hình thức tuyên truyền rất cơ động có thể áp dụng cho tất cả các vùng miền. Hoạt động trợ giúp pháp lý lưu động chủ yếu tập trung vào việc giải đáp tại chỗ pháp luật cho nhân dân. Hiện nay mỗi huyện có từ 4 đến 9 cộng tác viên trợ giúp pháp lý, nhưng lực lượng cộng tác viên này chưa phát huy được khả năng trợ giúp cho nhân dân. Việc trợ giúp cho đồng bào dân tộc chủ yếu do cộng tác viên thường trực của trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh tổ chức trợ giúp lưu động tại các huyện miền núi, vì vậy tỷ lệ người dân được giải thích, tuyên truyền bằng hình thức này vẫn còn thấp. Năm 2002 trợ giúp được 670 đối tượng là đồng bào dân tộc, chiếm tỷ lệ 670/999.547 người. Năm 2003 trợ giúp cho 1629 đối tượng là đồng bào các dân tộc, chiếm tỷ lệ 1629/999.547 người.

- Việc phát hành bản tin và các tài liệu pháp luật chưa phát huy được hiệu quả, chủ yếu mới chỉ phát đến UBND xã còn nhân dân ở các thôn bản vùng cao vẫn chưa có điều kiện tiếp cận, hoặc nếu có thì một số đồng bào dân tộc không thể đọc được do không biết chữ, không biết tiếng kinh và không hiểu nghĩa.

- Xây dựng tủ sách pháp luật: Hiện nay 100% các xã miền núi đều có Tủ sách pháp luật, nhưng việc khai thác hiệu quả của các tủ sách còn kém. Mục tiêu của Bộ Tư pháp là đến cuối năm 2001 Tủ sách pháp luật mỗi xã có từ 150 đến 250 đầu sách với 4 loại sách pháp luật. Nhưng hiện nay tủ sách của các xã miền núi mới có tối thiểu 22 đầu sách/ tủ, tối đa 135 đầu sách/tủ, việc đọc sách, báo chưa thành ý thức, chưa thành nề nếp.

- Giáo dục pháp luật trong trường học: Theo chương trình chung của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

b) Thực trạng về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở cấp huyện, xã.

- Ở cấp huyên :

Hàng năm UBND các huyện đã chủ động xây dựng kế hoạch công tác tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn, đồng thòi xây dựng kế hoạch phối hợp triển khai thực hiện có kết quả tương đối tốt, đã chuyển tải được các nội dung văn bản pháp luật mới cho cán bộ và nhân dân trên địa bàn, thông qua hội nghị tập huấn và các phương tiện thông tin đại chúng ở huyện. Tuy nhiên, một số Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật chưa tranh thủ được sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền địa phương, chưa coi trọng đúng mức vị trí, vai trò của công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật do đó chưa quan tâm thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật. Nội dung, phương pháp tuyên truyền, phổ biến chưa sát, chưa phù hợp, hình thức còn đơn điệu nên chất lượng chưa cao.

Nhận thức về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật chưa đúng mức, chưa coi việc phổ biến, giáo dục pháp luật là trách nhiệm của từng cấp, từng ngành, từng cơ quan, đơn vị.

Đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật còn hạn chế về trình độ chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật.

Việc đầu tư kinh phí phục vụ công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật ở các huyện miền núi còn quá ít, chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đã đề ra.

- Ở cấp xã :

Căn cứ vào kế hoạch chung của Hội đồng phôi hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cấp huyện, Ban phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cấp xã đã triển khai kịp thời, có hiệu quả, thiết thực hơn, nhất là thông qua các hội nghị tập huấn, sinh hoạt câu lạc bộ chuyên đề của các tổ chức đoàn thể ở bản, làng đã được đông đảo đồng bào quan tâm... Công tác hòa giải ở cơ Sở hoạt động có kết quả góp phần giải quyết các mâu thuẫn trong cộng đồng dân cư và trong từng gia đình. Mạng lưới loa truyền thanh cơ sỏ hoạt động có hiệu quả. Đặc biệt hiện nay một số đơn vị đang khai thác và đưa vào sử dụng hệ thống loa truyền thanh không dây để chuyển tải kịp thòi các thông tin thời sự, chính sách pháp luật đến đồng bào dân tộc, miền núi... Song bên cạnh đó, cấp ủy, chính quyền ở các xã miền núi chưa quan tâm đúng mức đối với công tác tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật. Lực lượng cán bộ Tư pháp cấp xã năng lực còn bị hạn chế nên vai trò tham mưu cho chính quyền, đoàn thể và Ban phối hợp còn mờ nhạt. Đội ngũ tuyên truyền viên pháp luật hoạt động chưa đều. Kinh phí, phương tiện, tài liệu phổ biến, giao dục pháp luật chưa tương xứng, thậm chí quá ít ỏi, việc đầu tư kinh phí bổ sung cho Tủ sách pháp luật các xã hàng năm còn thiếu, tủ sách còn sơ sài, việc khai thác chưa đạt hiệu quả cao.

2. Thực trạng về sự hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật của đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi hiện nay.

Trong những năm qua, được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của tỉnh, đồng thời được sự quan tâm của cấp ủy, chính quyền cấp huyện, xã, sự cộng tác đắc lực của các ngành, đoàn thể đã tham gia phối hợp, nên những vấn đề cơ bản, trọng tâm của cấc văn bản pháp luật đã được lựa chọn để chuyển tải đến cán bộ, đảng viên và nhân dân, góp phần tích cực, nâng cao sự hiểu biết pháp luật, ý thức chấp hành các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, phòng ngừa các tội phạm và tệ nạn xã hội, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý Nhà nước bằng pháp luật, tạo được sự đoàn kết thông nhất cao trong nhân dân, nhất là góp phần quan trọng đẩy mạnh phong trào đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, thi đua xây dựng cơ quan, đơn vị, trường học, làng, bản văn hóa. Đến 2003, 10 huyện miền núi có 452 làng, bản đạt đơn vị văn hóa cấp tỉnh và 291 làng, bản đạt đơn vị văn hóa cấp huyện, 15328 gia đình văn hóa, đạt tỷ lệ 70%. Nhìn chung đối với các huyện miền núi thấp trình độ nhận thức pháp luật có tiến bộ hơn so với các đồng bào dân tộc vùng cao.

Tuy nhiên, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào miền núi, vùng sâu, vùng xa trên thực tế những năm qua chưa được thường xuyên, ý thức chấp hành pháp luật của nhân dân còn thấp, đặc biệt đối với đồng bào dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa vẫn còn tình trạng "đói pháp luật", do vậy tình trạng vi phạm pháp luật diễn biến phức tạp. Theo số liệu báo cáo của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong năm 2003, Tòa án nhân dân các huyện miền núi đã thụ lý 1225 vụ án; trong 9 tháng năm 2004 đã thụ lý 902 vụ án, trong đó có nhiều vụ án, bị cáo là người dân tộc. Qua đánh giá chung hầu hết các bị cáo trong các vụ án hình sự, các nguyên đơn trong các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình trình độ rất thấp, nhiều người trình độ văn hóa mới lớp 1, lớp 2 thậm chí có những người không biết chữ, không hiểu biết pháp luật, cuộc sống quá nghèo đói. Ở những địa bàn vùng núi cao vẫn còn tình trạng di cư trái pháp luật của Nhà nước của người Mông vẫn thường xẩy ra. Cùng với việc du canh, du cư là tình trạng phá rừng làm nương rẫy, phát sinh các tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan, nghiện ma túy v.v... Tính đến quý 1/2004 toàn tỉnh Nghệ An có 4.576 người nghiện trong đó địa bàn 10 huyện miền núi có 719 người nghiện (huyện Tương Dương: 747 ngươi, huyện Kỳ Sơn 578 người; huyện Quế Phong 389 người). Đối với tệ nạn ma túy không chỉ riêng nhân dân miền núi mà còn có cả cán bộ, giáo viên đang sinh sông và làm việc tại khu vực miền núi cũng vi phạm. Các hoạt động liên quan đến tội phạm ma túy vẫn còn phát triển, bọn tội phạm tìm cách thuê mướn bà con dân tộc tham gia vận chuyển ma túy và đã biến họ trở thành tội phạm; Các phong tục lạc hậu tuy đã được hạn chế, song vẫn còn tiếp diễn đối với đồng bào dân tộc vùng sâu, vùng cao như cúng bái, ăn ở thiếu vệ sinh, người chết để quá thời gian quy định...

Tình trạng không đăng ký kết hôn, tảo hôn, không khai sinh, khai tử khá phổ biến. Theo số liệu báo cáo của các huyện, hiện nay trên địa bàn miền núi tỉnh Nghệ An, sau khi thực hiện Nghị quyết số 35/2000/QH10 của Quốc hội về đăng ký kết hôn, đã đăng ký kết hôn cho 21.989 cặp vợ chồng và hiện vẫn còn nhiều trường hợp không chịu đăng ký kết hôn (chỉ riêng hai huyện Tương Dương, Quỳ Hợp có 509); 4572 trường hợp chưa đăng ký khai sinh và hàng ngàn trường hợp chưa khai tử).

Tình trạng vi phạm quy chế biên giới, vượt biên trái phép sang Lào làm ăn vẫn thường xẩy ra. Đặc biệt, những năm gần đây, trên địa bàn biên giới Nghệ An các thế lực thù địch trong và ngoài nước luôn tìm cách lợi dụng chính sách dân tộc, tôn giáo, lợi dụng tình trạng dân trí thấp (đặc biệt là dân trí pháp lý) của đồng bào dân tộc để tiến hành các hoạt động gây rối như tổ chức hoạt động truyền đạo tin lành trong người Mông tổ chức các hoạt động xâm nhập móc nối xây dựng cơ Sở, trao đổi hàng hóa, buôn bán trao đổi vũ khí, chất cháy nổ qua biên giới, đồng thời tích cực tuyên truyền xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước ta bằng nhiều hình thức trong đó có hình thức thông qua mạng lưới đài phát thanh đặt tại nước ngoài phát bằng tiếng các dân tộc thiểu số để chia rẽ tình đoàn kết hữu nghị Việt

- Lào nói chung và nhân dân các tỉnh có chung đường biên giói với Nghệ An nói riêng.

III - NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG TỒN TẠI, YẾU KÉM:

1. Do địa bàn phức tạp, điều kiện kinh tế - xã hội của miền núi còn chậm phát triển, trình độ dân trí nhìn chung là thấp.

2. Các vùng cao còn tồn tại nhiều phong tục, tập quán lạc hậu không phù hợp với nếp sông văn hóa và các quy định của pháp luật.

3. Điều kiện cung cấp thông tin, truyền thông ở các xã miền núi còn rất khó khăn nên công tác tuyên truyền, giáo dục, phổ biến kiến thức pháp luật còn rất hạn chế, chưa có nội dung, phương pháp phù hợp với đặc thù miền núi và từng đối tượng.

4. Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật chưa được chú trọng và thực hiện thường xuyên.

5. Các cấp, các ngành chưa có sự phối, kết hợp chặt chẽ và thường xuyên về công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật.

6. Kinh phí đầu tư cho công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào miền núi còn ít, chưa cố sự ưu tiên, đầu tư thỏa đáng.

7. Chưa có sự quan tâm đúng mức của các cấp ủy Đảng và chính quyền. Năng lực và trách nhiệm của các cơ quan chức năng và chính quyền cơ sỏ chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ. Đội ngũ làm công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật ở nhiều địa phương còn thiếu và yếu về chất lượng và số lượng.

PHẦN THỨ HAI

MỤC TIÊU, YÊU CẦU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, HÌNH THỨC, BIỆN PHÁP TRIỂN KHAI THỰC HIỆN PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO CÁN BỘ, ĐỔNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ, MIỀN NÚI TỪ NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2010

I - MỤC TIÊU, YÊU CẦU, ĐỐI TƯỢNG

1. Mục tiêu:

1.1. Phổ biến kịp thòi, đầy đủ các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến sinh hoạt hàng ngày, đến các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội của cán bộ, đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nhằm trang bị kiến thức và nâng cao hiểu biết pháp luật tạo điều kiện để cán bộ công chức và đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi sử dụng pháp luật làm phương tiện bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của mình. Góp phần thực hiện nhiệm vụ, nâng cao kỷ luật, kỷ cương bộ máy Nhà nước và trong xã hội. Phấn đấu đến năm 2007 có từ 70% - 80% dân số biết được những lĩnh vực pháp luật có liên quan trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ của người dân; Từ năm 2008 đến 2010: Tạo được chuyển biến căn bản trong việc nâng cao hiểu biết, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân dân tộc thiểu số và miền núi góp phần ngăn chặn và hạn chế vi phạm nháp luật, giữ gìn an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội.

1.2 Xây dựng được một đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên ổn định ở địa phương, trong đó lực lượng nòng cốt là cán bộ đoàn thể, trưởng thôn, già làng, Trưởng bản và đội ngũ giáo viên tại các trường học ở địa phương.

1.3. Xây dựng cơ chế phối hợp hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ, đồng bào dân tộc thiểu sô’ và miền núi giữa các cơ quan, tổ chức có liên quan để đưa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật vào nề nếp.

1.4. Phát huy sức mạnh tổng hợp của các cấp, các ngành trong việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đến từng bản, làng vùng sâu và dân tộc thiểu số Từng bước hình thành nếp thông tin, tuyên truyền, tìm hiểu pháp luật... như là một hình thức hoạt động thường xuyên ở cơ Sở.

2. Yêu cầu:

2.1. Duy trì thường xuyên các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật và lựa chọn nội dung, hình thức phù hợp với đối tượng được phổ biến để nâng cao hiệu qua của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.

2.2. Xây dựng điểm một số đơn vị để triển khai thực hiện Đề án sau nhân ra diện rộng. Khai thác có hiệu quả các hình thức, phương pháp phổ biến, giáo dục pháp luật đã phát huy tác dụng, có sáng tạo, đổi mới trong phương thức thực hiện; lồng ghép công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực hiện các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Gắn chặt hơn nữa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật với việc tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước với công tác trợ giúp miễn phí cho người nghèo, đối tượng chính sách, công tác hòa giải ở cơ Sở.

2.3. Cần tập trung thực hiện một số cống việc trước mắt, đồng thời chú trọng thực hiện các giải pháp lâu dài.

3. Đối tượng:

3.1. Đội ngũ cán bộ cơ Sở (từ xã đến thôn, bản) bao gồm: Cán bộ Đảng, chính quyền,

Mặt trận, đoàn thể nhân dân, tuyên truyền viên, báo cáo viên, hòa giải viên, già làng, trưởng thôn - bản, các chức sắc tôn giáo, trưởng dòng họ. Đội ngũ giáo viên (đặc biệt là giáo viên giảng dạy môn giáo dục công dân) và các chiến sỹ bộ đội biên phòng, chiến sỹ công an trên địa bàn.

3.2. Toàn thể nhân dân và học sinh, sinh viên cư trú, sinh sống và học tập trên địa bàn 10 huyện miền núi và các huyện có xã miền núi.

II - NỘI DUNG, HÌNH THỨC, BIỆN PHÁP TRIỂN KHAI THỰC HIỆN.

1. Nội dung.

1.1. Từ năm 2005 đến năm 2010:

Theo chỉ đạo của Chính phủ và các Bộ, ngành ở Trung ương tổ chức thực hiện tốt các đề án: Nâng cao hiểu biết pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào vùng biên giới; phổ biến, tuyên truyền pháp luật về đất đai; phổ biến pháp luật cho các đối tượng tôn giáo; chỉ đạo điểm xây dựng và phát triển các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật có hiệu quả trong giai đoạn hiện nay (Theo Quyết định số 13/2003/QĐ-TTg ngày 17/01/2003 của Thủ tướng Chính phủ). Các Đề án: Đưa thông tin pháp luật đến cán bộ, nhân dân thông qua phương tiện thông tin đại chúng và các thiết chế văn hóa thông tin ở xã, phương, thị trấn; Xây dựng và đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động chấp hành pháp luật trong cộng đồng dấn cư; Tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về khiếu nại, tố cáo ở các xã, phường, thị trấn; Phát huy vai trò của cơ quan và cán bộ tư pháp trong phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho cán bộ, nhân dân ở xã, phường, thị trấn (theo Quyết định số 212/2004/QĐ-TTg ngày 16/12/2004 của Thủ tướng Chính phủ).

1.2. Trong đó từ năm 2005 đến năm 2007, tập trung phổ biến các văn bản pháp luật của Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ ngành Trung ương và các văn bản QPPL của địa phương, đặc biệt là những chủ trương, đường lối, chính sách pháp luật của Đảng, Nhà nước về dân tộc - miền núi, tôn giáo, văn hóa, trong đó tập trung chú trọng phổ biến các văn bản pháp luật có liên quan trực tiếp đến thẩm quyền quản lý Nhà nước, đời sống của cán bộ, đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; những nội dung pháp luật cần thiết để góp phần giải quyết những vấn đề nổi cộm, bức xúc trên địa bàn và nội dung pháp luật cần thiết, thiết thực đáp ứng yêu cầu của cán bộ và nhân dân ở miền núi và đồng bào dân tộc thiểu số.

2. Hình thức, biện pháp triển khai:

2.1. Đối với các Bộ luật, Pháp lệnh, Chỉ thị, Nghị quyết, Quyết định liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực phải được tổ chức thành hội nghị, để quán triệt và chỉ đạo thực hiện đảm bảo nội dung đến được với người dân, nội dung phải được soạn bằng các tài liệu, tò gấp thông tin pháp luật cụ thể dễ hiểu bằng ngôn ngữ chữ viết phù hợp.

2.2. Đối với các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành: Văn bản thuộc lĩnh vực nào, ngành nào thì ngành, đoàn thể đó phối hợp với Sở Tư pháp xây dựng kế hoạch và tổ chức triển khai, chỉ đạo thực hiện.

a) Đối với cán bộ cấp xã

- Nội dung: Đây là lực lượng nòng cốt đóng vai trò tổ chức, triển khai các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến với nhân dân. Vì vậy, bắt buộc phải được quán triệt đầy đủ các văn bản pháp luật của Nhà nước, các Nghị quyết của HĐND, Quyết định, Chỉ thị của UBND các cấp.

Tập trung phổ biến cho cán bộ, công chức học tập nội dung các Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, về công tác dân tộc, công tác tôn giáo.

Tập huấn, phổ biến những văn bản có liên quan trực tiếp đến thẩm quyền quản lý của cán bộ như Luật Tổ chức HĐND và UBND, Luật Biên giới Quốc gia, Luật Đất đai, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Di sản văn hóa,

Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, Luật Phòng chống ma túy, Pháp lệnh Dân số, Pháp lệnh về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ Sở và các quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, chống tham nhũng, tệ nạn xã hội, thực hiện quy chế dân chủ trong cơ quan, đơn vị cơ sở.

Kịp thời tuyên truyền, phổ biến các văn bản pháp luật của Trung ương và các văn bản quy phạm pháp luật của địa phương ban hành theo đúng thòi gian, phục vụ kịp thòi nhiệm vụ chính trị của địa phương.

- Hình thức:

+ Tổ chức phổ biến quán triệt nội dung tại hội nghị.

+ Cung cấp tài liệu để cán bộ có trách nhiệm tự nghiên cứu, tìm hiểu.

+ Hàng năm tổ chức các cuộc thi, hội thi cho cán bộ xã, thôn với mục đích giao lưu và tìm hiểu pháp luật.

- Biện pháp:

+ Đối với địa bàn vùng núi thấp: UBND huyện chủ trì, tổ chức triển khai. Báo cáo viên pháp luật cấp huyện (Tư pháp, Công an, Thanh tra, Nội vụ - Lao động Thương binh và Xã hội, Ban Tuyên giáo Huyện ủy) có trách nhiệm truyền đạt nội dung theo sự phân công của Chủ tịch Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật hoặc mời báo cáo viên cấp trên.

+ Đối với các xã vùng cao: UBND huyện phân công lãnh đạo các ban, ngành là thành viên của Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và báo cáo viên trực tiếp xuống xã triển khai nội dung theo kế hoạch của Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của huyện.

b) Đối với cán bộ ở thôn, bản gồm: Cán bộ mặt trận các đoàn thể ở thôn, bản, già làng, trưởng thôn, bản, các chức sắc tôn giáo, trưởng dòng họ.

- Nội dung: Lựa chọn những nội dung liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của người dân để tuyên truyền, phổ biến, giáo dục cho đối tượng này như, các chính sách của Đảng và Nhà nước về tôn giáo, dân tộc và miền núi... Luật Hình sự, Luật Dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Đất đai, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, Luật Phòng chống ma túy, Luật Biên giới Quốc gia, Luật Giáo dục, Luật Khiếu nại, tố cáo, Pháp lệnh Tổ chức và hoạt động hòa giải cơ Sở, Pháp lệnh Dân số ... trang bị những kiến thức cần thiết để họ tích cực tham gia vào các phong trào ở địa phương như làng bản không còn tội phạm và tệ nạn xã hội, tham gia hòa giải các tranh chấp trong nội bộ nhân dân, thông qua đó họ tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhân dân.

- Hình thức: Biên soạn tài liệu ngắn gọn, phát cho các đối tượng nghiên cứu trước, sau đó UBND xã hoặc các đoàn thể tổ chức hội nghị, báo cáo viên có trách nhiệm giải thích những vướng mắc cụ thể của từng đại biểu tham dự nêu ra trong các hội nghị. Hoặc tổ chức các buổi giao lưu trao đổi các thông tin pháp lý, qua đó tuyên truyền những nội dung pháp luật cần thiết. Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu pháp luật.

- Biện pháp:

+ Cấp ủy và chính quyền xã thông nhất chủ trương, xây dựng kế hoạch cụ thể triển khai hàng quý. Mỗi quý mời báo cáo viên cấp huyện về triển khai nội dung một lần và phải duy trì thường xuyên.

+ Các xã vùng cao không có điều kiện tập trung thì cấp ủy, chính quyền cơ Sở phối hợp với đồn biên phòng, trường học cử cán bộ, bộ đội, giáo viên đến các thôn bản triển khai cho các đối tượng này.

c) Đối với nhân dân và hoc sinh, sinh viên

- Nội dung: cần tập trung phổ biến đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đặc biệt là các chủ trương, chính sách về dân tộc và miền núi, về tôn giáo; Các Chỉ thị, Nghị quyết của các cấp liên quan đến sự nghiệp đổi mới, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo vệ trật tự an ninh biên giới, xóa đói giảm nghèo, xây dựng nếp sống văn minh, văn hóa, bài trừ mê tín dị đoan, các tệ nạn xã hội, chông hủ tục lạc hậu, phát huy tập quán tốt đẹp trong cộng đồng dân cư; Các văn bản pháp luật như: Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, Luật Hình sự, Luật Dân sự (sửa đổi), Tố tụng dân sự, Tố tụng hình sự, Luật Đất đai, Luật An ninh quốc gia, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, Luật phòng chông ma túy, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Giáo dục, Luật Khiếu nại tố cáo, Pháp lệnh Phòng chống mại dâm, Pháp lệnh Dân số và công tác đăng ký quản lý hộ tịch... qua đó vận động nhân dân ý thức xây dựng và bảo vệ tổ quốc, bảo vệ biên giới quốc gia, bảo vệ rừng và di sản văn hóa của dân tộc ở địa phương mình, thực hiện nghĩa vụ của công dân đối với nhà nước, nghĩa vụ tôn trọng và chấp hành pháp luật. Đặc biệt, tuyên truyền vận động đồng bào các dân tộc nhận thức đúng các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, cảnh giác với những âm mưu kích động, chia rẽ đoàn kết dân tộc của các thê' lực thù địch, chăm lo đẩy mạnh sản xuất, phát triển kinh tế, nâng cao đời sông mọi mặt.

- Hình thức:

+ Trực tiếp truyền đạt các văn bản pháp luật cho nhân dân: Cử các báo cáo viên trực tiếp phổ biến các văn bản pháp luật và giải đáp các thắc mắc cho nhân dân, giúp đồng bào nhận biết và hiểu được nội dung quy định của pháp luật.

+ Tuyên truyền pháp luật trên các phương tiện thông tin đại chúng như báo, Đài Phát thanh - Truyền hình. Củng cố, phát triển hệ thống loa truyền thanh cơ sở, phối hợp đưa nội dung tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật vào chương trình truyền thanh, đảm bảo những văn bản có liên quan đến miền núi đều được phát triển trên mạng truyền thanh cơ sở. Sao các băng hình đã dịch sang tiếng dân tộc đưa về các thôn bản để phát trên hệ thông loa truyền thanh cơ sở. Đối với những vùng không phủ sóng truyền thanh - truyền hình, cán bộ tư pháp,

Bộ đội biên phòng, giáo viên, lực lượng Kiểm lâm cùng phối hợp chặt chẽ để tuyên truyền cho nhân dân địa phương, đồng thời vận động quần chúng, đồng bào không nghe đài nước ngoài tuyên truyền những nội dung không lành mạnh.

+ Tuyên truyền thông qua các cuộc thi tìm hiểu pháp luật: Hình thức tuyên truyền này dễ thực hiện, đạt hiệu quả cao, thu hút được nhiều đối tượng tham gia. Đối tượng tham gia hình thức này thường đa dạng vì vậy có thể tùy theo từng nội dung và chuyên đề cụ thể các cơ quan, đoàn thể có thể tổ chức theo sự chỉ đạo chung của cấp trên hoặc các ngành, địa phương tự tổ chức ở đơn vị mình.

+ Tuyên truyền pháp luật thông qua hình thức hoạt động trợ giúp pháp lý. Hoạt động trợ giúp pháp lý cần tăng cường mở rộng mạng lưới, các điểm trợ giúp pháp lý và cộng tác viên ở cơ sở. Thường xuyên tổ chức tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ để lực lượng này trở thành lực lượng nòng cốt trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Tăng cường hoạt động tư vấn pháp luật miễn phí dưới hình thức tư vấn lưu động; có những hình thức thích hợp tập hợp thắc mắc về pháp luật của đồng bào để kịp thời phối hợp giải đáp.

+ Tuyên truyền pháp luật bằng hình thức thông tin cổ động, chiếu phim lưu động lồng ghép các nội dung pháp luật, tăng cường hoạt động của các đội văn hóa thông tin lưu động, phát triển các trạm tin, bảng tin ở cụm dân cư.

+ Sinh hoạt câu lạc bộ pháp luật, lồng ghép việc tuyên truyền pháp luật, tuyên truyền các chủ trương, chính sách cùng với một số sinh hoạt văn hóa truyền thông, vui chơi giải trí lành mạnh của đồng bào các dân tộc.

+ Tuyên truyền thông qua công tác xây dựng và quản lý, khai thác có hiệu quả Tủ sách pháp luật ở cơ sở: Do đặc điểm của các thôn, bản thường phân tán, cách xa trung tâm vì vậy cần bố trí đặt Tủ sách tại các nơi thuận tiện để nhân dân có điều kiện khai thác tìm hiểu. Phối hợp với Bưu điện văn hóa xã làm nơi sinh hoạt, giao lưu và nghiên cứu các loại sách, tạp chí có nội dung pháp luật.

+ Làm tờ gấp, lịch tuyên truyền có nội dung pháp luật cần thiết phát tới các làng, bản.

+ Tăng cường công tác giáo dục pháp luật cho đối tượng là học sinh trong các nhà trường phổ thông trên địa bàn các huyện miền núi theo nội dung chuyên đề riêng.

- Biện pháp:

+ Ban Dân tộc tỉnh cùng Sở Tư pháp có trách nhiệm phối hợp với Đài Phát thanh - Truyền hình, Báo Nghệ An, các tổ chức đoàn thể và cơ quan chức năng xây dựng kế hoạch liên ngành tổ chức phổ biến pháp luật đến với nhân dân. Biên tập những nội dung pháp luật bằng tiếng Thái, Mông thành chuyên mục riêng phục vụ đồng bào.

+ UBND cấp xã phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp xây dựng, củng cố các Tổ hòa giải ở cơ sở (vận động các già làng, trưởng bản, chức sắc tôn giáo, trưởng dòng họ tham gia vào các tổ hòa giải cơ sở), cung cấp tài liệu, tổ chức tập huấn kiến thức pháp luật cho hòa giải viên, tạo thành lực lượng nòng cốt ở các cộng đồng dân cư, thực hiện nhiệm vụ hòa giải và tuyên truyền pháp luật.

PHẦN THỨ BA

CÔNG TÁC CHỈ ĐẠO VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN

I - CÔNG TÁC CHỈ ĐẠO

1. Tranh thủ sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng các cấp, đặc biệt là các cấp ủy cơ sở trong việc thực hiện Đề án tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ đồng bào dân tộc và miền núi được thường xuyên, hên tục, góp phần nâng cao nhận thức cho đồng bào các dân tộc miền núi.

2. Phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị ở từng cấp trong công tác phối hợp chỉ đạo, chuyên môn theo ngành từ Tỉnh xuống cơ sở. Tổ chức thực hiện tốt các Đề án do Trung ương chỉ đạo xuống đến tận cơ sở kịp thời. Tăng cường tính chủ động phối hợp giữa các ban ngành, các tổ chức đoàn thể thống nhất công tác tuyên truyền, vận động, xây dựng phong trào ở thôn, xóm, làng, bản từng bước nâng cao nhận thức cho nhân dân, tăng cường giáo dục để nâng cao ý thức quyền; và nghĩa vụ của mỗi người trong gia đình, trong cộng đồng và trong xã hội.

3. Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật phải kết hợp với việc tổ chức thực hiện chấp hành pháp luật ở từng thôn, xóm, làng, bản ở mỗi gia đình và dòng họ. Gắn công tác tuyên truyền pháp luật phục vụ có hiệu quả các phong trào do tỉnh, huyện chỉ đạo thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước các cấp đề ra như: Xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế ở nông thôn, kinh tế trang trại, kinh tế miền núi; phong trào xây dựng gia đình văn hóa, bản làng, thôn xóm văn hóa. Xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước, quy chế dân chủ ở cơ sở, phong trào bảo vệ an ninh biên giới...; giải đáp vướng mắc có liên quan đến các chế độ chính sách đến quyền lợi của nhân dân; thực hiện tốt công tác hòa giải, giải quyết các khiếu nại tố cáo ở cơ sở kịp thời. Vận động nhân dân giữ gìn và phát huy các phong tục tập quán tốt đẹp, loại bỏ các hủ tục lạc hậu.

II - PHÂN CÔNG TRÁCH NHIỆM CỤ THỂ

1. Ở cấp tỉnh:

1.1. Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh chỉ đạo, hướng dẫn Hội đồng phổi hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cấp huyện, Ban chỉ đạo phối hợp công tác phổ biến giáo dục pháp luật các xã miền núi tổ chức tốt công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ, đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi ở địa phương mình. Các Ban của Hội đồng căn cứ vào đặc điểm, tình hình, chức năng của đơn vị mình để xây dựng kế hoạch tuyên truyền pháp luật cho cán bộ của ngành ở các huyện miền núi hàng quý.

Các thành viên Hội đồng căn cứ chức năng nhiệm vụ của mình, chỉ đạo hướng dẫn tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật theo ngành từ tỉnh xuống cơ sở.

1.2. Sở Tư pháp - Cơ quan thường trực của Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh chủ trì, phối hợp với Ban Dân tộc tĩnh, Hội Nông dân, Tỉnh Đoàn, Sở Nông-nghiệp và Phát triển nông thôn, Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh.

a) Định kỳ hàng năm tham mưu giúp UBND tỉnh, Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh xây dựng kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật. Làm tốt vai trò cơ quan thường trực trong công tác tham mưu giúp UBND tỉnh và khâu nối hoạt động của các thành viên trong tổ chức thực hiện Đề án. Theo dõi đôn đốc các thành viên liên quan, cơ sở trong tổ chức thực hiện để báo cáo UBND tỉnh.

b) Tổ chức các hội nghị tập huấn cho báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật và cán bộ làm công tác phổ biến giáo dục pháp luật nội dung các văn bản pháp luật, bồi dưỡng nghiệp vụ, trao đổi kinh nghiệm phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ, đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Trong quá trình tập huấn văn bản pháp luật cần lựa chọn các hình thức, nội dung phù hợp với từng đối tượng, địa bàn. Củng cố mở rộng lực lượng tham gia công tác phổ biến giáo dục pháp luật gồm đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, hòa giải viên, cán bộ tư vấn pháp luật, cán bộ trợ giúp pháp lý, già làng, trưởng bản, các vị chức sắc tôn giáo, trưởng dòng họ. Huy động và sử dụng lực lượng thanh niên tình nguyện, thanh niên xung kích trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.

c) Tăng cường chỉ đạo xây dựng, quản lý và khai thác có hiệu quả Tủ sách pháp luật ở cơ quan, trường học và ở xã, thị trấn phục vụ cho việc nâng cao hiệu lực quản lý chính quyền cơ sở, nâng cao hiểu biết pháp luật của cán bộ và nhân dân.

d) Biên soạn, in ấn phát hành đầy đủ kịp. thời các loại tài liệu, đề cương hỏi đáp, tờ gấp, Tập san Pháp luật và Đời sống của Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh phục vụ cho các đội ngũ báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên cơ sở, các huyện, xã thôn bản và nhân dân tìm hiểu pháp luật (trong đó có các số chuyên đề dành cho dân tộc thiểu số và miền núi).

đ) Phối hợp với các cơ quan phương tiện thông tin đại chúng ở các địa phương có chuyên trang, chuyên mục phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ và đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

g) Phối hợp với Ban Dân tộc tỉnh, Sở Tài chính, Văn phòng UBND tỉnh xây dựng kế hoạch kinh phí hàng năm cho việc thực hiện Đề án trình UBND tỉnh phê duyệt.

1.3. Ban Dân tộc, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp cùng các ngành liên quan.

a) Tổ chức tập huấn và các cuộc thi tìm hiểu pháp luật cho cán bộ, công chức và đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

b) Tăng cường công tác kiểm tra, tổng kết, đánh giá tình hình kết quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và nhận thức, chấp hành pháp luật của cán bộ, đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

c) Chủ trì biên dịch, sao băng đài, tài liệu, phát hành dưới dạng hỏi đáp pháp luật bằng tiếng dân tộc thiểu số đến thôn, bản.

1.4. Sở Nội vụ: Phối hợp với Sở Tư pháp chỉ đạo, hướng dẫn UBND các huyện, thành phố, thị xã thành lập và tăng cường tổ chức cán bộ cho Phòng Tư pháp theo Nghị định 172/2004/NĐ-CP ngày 29/9/2004 của Chính phủ.

1.5. Sở Văn hóa Thông tin

a) Tham mưu, chỉ đạo, phát huy hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật trên mạng lưới truyền thanh cơ sở. Củng cố phát triển hệ thông loa truyền thanh cơ sở, phấn đấu đến năm 2010 các cơ sở xã miền núi đều có hệ thông truyền thanh, phối hợp đưa nội dung tuyên truyền, phổ biến pháp luật vào chương trình truyền thanh, bảo đảm các văn bản pháp luật có liên quan đến dân tộc, miền núi đều được phát trên mạng lưới truyền thanh cơ sở.

b) Tổ chức, tuyên truyền pháp luật bằng hình thức thông tin, cổ động, các cụm panô, áp phích, hỗ trợ hoạt động của các đội thông tin lưu động, phát triển các trạm tin, bảng tin ở các cụm dân cư.

c) Phối hợp với các phương tiện thông tin đại chúng như Đài phát thanh - Truyền hình, Báo Nghệ An, Báo Công An Nghệ An và các báo ngành có liên quan mở các chuyên trang dân tộc và miền núi nhằm đưa pháp luật đến với người dân miền núi, vùng sâu vùng xa.

1.6. Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh.

a) Xây dựng kế hoạch tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ đồng bào thiểu số và miền núi, chỉ đạo, hướng dẫn Đài phát thanh - Truyền hình các huyện thực hiện kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật hàng năm. Dành thời lượng thích đáng cho việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ, đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, trước hết là các Đài Phát thanh - Truyền hình địa phương.

b) Thành lập bộ phận chuyên phụ trách công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, trả lòi hộp thư truyền hình, làm các chuyên đề về cải cách hành chính.

c) Thu và chuyên các băng hình phát thanh có nội dung phổ biến pháp luật lên các đài cơ sở để các trạm phát lại phục vụ đồng bào địa phương.

d) Tổ chức tập huấn cho đội ngũ cán bộ làm công tác truyền thành cơ sở với các nội dung như: Nghiệp vụ viết bài, đưa tin; hình thức phát thanh lồng ghép nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật; kỹ thuật vận hành máy móc.

1.7. Báo Nghệ An

a) Tăng nội dung tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước trên chuyên trang Miền núi - Dân tộc và trên số báo Nghệ An ra hàng ngày. Thực hiện việc cấp báo cho các chi bộ cơ sở và trưởng thôn bản, già làng.

b) Tổ chức hội nghị, hội thảo công tác phát hành chuyên trang "Nghệ An - Miền núi - Dân tộc" dành cho các huyện miền núi nhằm phát huy tác dụng của báo chí trên lĩnh vực tuyên truyền, giáo dục pháp luật.

c) Mở lớp bồi dưỡng nghiệp vụ viết báo có nội dung tuyên truyền pháp luật cho đội ngũ cộng tác viên là người dân tộc thiểu số; bố trí lực lượng phóng viên chuyên viết về dân tộc và miền núi có năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cao.

1.8. Sở Giáo dục - Đào tạo chủ trì, phối hợp với Sở Tư pháp, Hội khuyến học và các ngành có liên quan.

a) Xây dựng các chương trình ngoại khóa về pháp luật cho giáo viên và học sinh miền núi. Biên soạn các loại tài liệu pháp luật cụ thể, dễ hiểu đối với đối tượng là học sinh dân tộc, miền núi, tạo điều kiện thuận lợi để học sinh có điều kiện tiếp cận thông tin.

b) Đẩy mạnh việc xây dựng, quản lý, khai thác Tủ sách pháp luật trong các nhà trường để tạo điểu kiện thuận lợi cho việc phổ biến, giáo dục pháp luật trong cán bộ, giáo viên, học sinh và nhân dân địa phương.

c) Chỉ đạo xây dựng đội ngũ báo cáo viên pháp luật là giáo viên phục vụ cho việc phổ biến, giáo dục pháp luật ở các xã miền núi.

d) Chỉ đạo các trung tâm học tập cộng đồng ở các xã miền núi để phổ biến, giáo dục pháp luật cho người lao động.

1.9. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh: Phối hợp với các Ban ngành có liên quan và các đoàn thể quần chúng phát động phong trào toàn dân tham gia phòng chông tội phạm ma túy, cải tạo, giáo dục, cảm hóa người phạm tội tại gia đình và cộng đồng dân cư trên địa bàn các huyện miền núi, phong trào người dân miền núi thực hiện "5 không": không đánh bạc, không mại dâm, không ma túy, không trộm cắp, không uống rượu say. Tổ chức tập huấn cho cán bộ cơ sở các văn bản pháp luật mối như: Luật Mặt trận, Luật Hình sự 1999, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000. Luật phòng, chống ma túy, Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội v.v...

1.10. Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh; Hội Nông dân tỉnh; Tỉnh Đoàn tổ chức tập huấn, tuyên truyền, phổ biến các văn bản pháp luật liên quan đến cán' bộ, hội viên của mình là người dân tộc thiểu số, miền núi; xây dựng các mô hình giáo dục cho hội viên và nhân dân trên địa bàn như: "Câu lạc bộ thanh niên", "Câu lạc bộ phụ nữ"...

1.11. Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh và Bộ đội Biên phòng tỉnh

a) Tổ chức tuyên truyền, phổ biến các văn bản pháp luật có liên quan đến biên giới quốc gia, quyền và lợi ích hợp pháp, nghĩa vụ chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ tổ quốc cho cán bộ đồng bào các dân tộc thiểu số và miền núi ở các xã biên giới. Tăng cường công tác vận động nhân dân xây dựng mô hình "điểm sáng vùng cao" "Làng bản văn hóa", xóa bỏ trồng cây thuốc phiện, phát triển kinh tế gia đình.

b) Chỉ đạo việc xây dựng đội ngũ báo cáo viên pháp luật là lực lượng bộ đội tăng cường cơ sở và bộ đội biên phòng phục vụ công tác tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ, đồng bào các dân tộc thiểu số và miền núi.

1.12. Công an tỉnh: Phối hợp với các ngành có liên quan tổ chức tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho chiến sỹ, cán bộ cảnh sát công tác tại địa bàn các huyện miền núi, đồng thời chỉ đạo việc xây dựng đội ngũ báo cáo viên là cán bộ công an để thực hiện công tác giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội cho người dân địa bàn miền núi.

1.13. Sở Tài chính:

Phối hợp với Sở Tư pháp, Ban Dân tộc tỉnh tham mưu cho UBND tỉnh bảo đảm về kinh phí thực hiện Đề án và kinh phí cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật hàng năm cho các huyện, xã miền núi.

1.14. Văn phòng UBND tỉnh tham mưu cho UBND tỉnh xây dựng kế hoạch tổ chức kiểm tra, đôn đốc các cấp, các ngành trong quá trình tổ chức thực hiện và phối hợp với Sở Tư pháp định kỳ hàng năm sơ kết rút kinh nghiệm cho công tác chỉ đạo thực hiện.

2. Cấp huyện, xã

2.1. UBND các huyện, các xã địa bàn miền núi chịu trách nhiệm phối hợp với các cơ quan chức năng củng cố và kiện toàn Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cấp huyện, Ban phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cấp xã; Ban Tư pháp xã, Đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên cơ sở, các tổ hòa giải, hệ thống loa truyền thanh cơ sở, Tủ sách pháp luật ở xã, thị trấn đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

2.2. Trên cơ sở kế hoạch triển khai thực hiện Đề án của Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh, UBND các huyện, các xã xây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể để triển khai thực hiện kế hoạch ở huyện, xã mình theo tháng, quý và cả năm.

2.3. UBND các huyện, các xã chịu trách nhiệm đảm bảo số lượng và chất lượng của đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên cơ sở và số lượng đại biểu trong các cuộc tập huấn, bồi dưỡng tại đơn vị mình (do Phòng Tư pháp cấp huyện và Ban Tư pháp cấp xã tham mưu).

2.4. UBND huyện, xã theo dõi chỉ đạo cơ sở thực hiện tốt công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số thuộc địa phương mình. Hàng năm có báo cáo tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện Đề án và kiến nghị, đề xuất với UBND tỉnh.

III - CÁC BIỆN PHÁP ĐẢM BẢO THỰC HIỆN ĐỀ ÁN

Để bảo đảm thực hiện Đề án tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật chò cán bộ, đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trên địa bàn tỉnh Nghệ An đạt hiệu quả cần tập trung làm tốt một số biện pháp sau:

1. Đảng bộ, Chính quyền các cấp và đồng bào các dân tộc miền núi cần phải nỗ lực cùng Nhà nước thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo, phát triển Văn hóa - Giáo dục - Y tế và các chính sách kinh tê xã hội... Tăng cường xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng (đường giao thông, điện sáng, nước sinh hoạt...) đẩy mạnh phát triển KT-XH miền núi, từng bước nâng cao đời sống, trình độ dân trí, nhận thức và hiểu biết pháp luật cho đồng bào các dân tộc.

2. Tuyên truyền rộng rãi cho cán bộ các cấp, các ngành nhận thức đầy đủ vai trò trách nhiệm của từng cấp từng ngành trong việc phối hợp, tổ chức thực hiện thành công nhiệm vụ tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhân dân ở miền núi nắm được những chủ trương đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước giúp cho nhân dân có những hiểu biết cơ bản nhất về pháp luật, giáo dục nhân dân có ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật. Theo chức năng của mình, các Sở, ban, ngành và các đoàn được phân công, nhiệm vụ chủ trì hoặc phối hợp xây dựng kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật ở miền núi và tổ chức, chỉ đạo thực hiện.

3. Xây dựng, củng cố, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cơ sở, tuyên truyền viên, hòa giải viên ở bản làng, thôn, xóm; bộ đội biên phòng; cán bộ kiểm lâm; giáo viên các trường trung học cơ sở, tiểu học làm lực lượng nòng cốt thực hiện Đề án.

4. Cơ quan Tư pháp ở các cấp xây dựng kế hoạch tham mưu cho UBND cùng cấp chỉ đạo công tác phối hợp của các ngành, các tổ chức đoàn thể trong quá trình triển khai được thường xuyên liên tục. Tổ chức các lớp bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho các cán bộ cấp xã, trưởng thôn, bản, Bí thư chi bộ, hòa giải viên, tuyên truyền viên, Trưởng các đoàn thể ở cấp xã.

5. Chủ tịch UBND cấp xã là người trực tiếp chỉ đạo các ngành, các đoàn thể ở cơ sở thực hiện thường xuyên công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ nhân dân thuộc, địa bàn mình quản lý.

6. Thời gian thực hiện Đề án: Việc thực hiện đề án bắt đầu từ quý 1/2005, kết thúc vào năm 2010 và được chia thành 2 giai đoạn: 2005 - 2007; 2008 - 2010.

- Giai đoạn 1: Từ 2005 - 2007, tập trung công tác xây dựng kế hoạch chỉ đạo điểm và nhân rộng mô hình. Trước mắt chọn 27 xã dọc biên giới Việt Lào làm điểm. Việc chỉ đạo điểm phải phù hợp với từng đối tương và chuyên đề cụ thể. Trong ’quá trình chỉ đạo điểm cần có sự khảo sát, sơ kết đánh giá hiệu quả của công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và rút ra những bài học kinh nghiệm để bố cứu kịp thời.

- Giai đoạn 2: Từ 2008 - 2010. Sau sơ kết, đánh giá, rút kinh nghiệm về công tác thực hiện đề án ở giai đoạn I, tiếp tục thực hiện kế hoạch, nhiệm vụ tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trên địa bàn 10 huyện miền núi.

Trong quá trình thực hiện đề án phải được thực hiện đúng tiến độ, thời gian và thường xuyên, liên tục. Các ngành, các cấp được phân công trách nhiệm trong quá trình thực hiện đề án phải thực hiện chế độ thông tin, báo cáo kết quả kịp thời cho UBND tỉnh.

7. Kinh phí đảm bảo thực hiện đề án:

7.1. Kinh phí bảo đảm cho việc thực hiện Đề án được cấp từ ngân sách địa phương (tỉnh, huyện và xã). Giao sỏ Tài chính phối hợp với Sở Tư pháp lập dự trù đưa vào kế hoạch hàng năm và có hướng dẫn liên ngành để các cơ quan chuyên môn cấp dưới tham mưu lập dự toán hàng năm đưa vào kế hoạch ở cấp mình.

7.2. Kinh phí năm 2005 ở cấp tỉnh cấp giao Sở Tài chính tham mưu trình UBND tỉnh. Ở cấp huyện, xã được tính toán cấp bổ sung để đảm bảo các nội dung ở cấp mình.

7.3. Các cơ quan Chủ Đề án, chương trình về kinh tế - xã hội... đầu tư cho vùng dân tộc, miền núi cần xác định kinh phí cho công tác phổ biến chủ trương và pháp luật phục vụ cho việc triển khai thực hiện nội dung phổ biến, giáo dục pháp luật phục vụ các Đề án, chương trình trên địa bàn tỉnh.

Tổng quan văn bản

Số ký hiệu07/2005/QĐ-UB
Ngày ban hành13/01/2005
Loại văn bảnQuyết định
Ngày có hiệu lực13/01/2005
Nguồn thu thậpCơ sở dữ liệu
Ngày đăng công báo---
Cơ quan ban hành / Người kýUBND tỉnh Nghệ An / Nguyễn Thế Trung
Phạm viNghệ An
Trích yếuVề việc ban hành Đề án Tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ, đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trên địa bàn tỉnh Nghê An từ năm 2005 đến năm 2010
Tình trạng hiệu lựcCòn hiệu lực

Chưa có thông tin lược đồ

Văn bản này hiện chưa được cập nhật dữ liệu về lược đồ liên quan.