|
HĐND THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Số: 74/2008/NQ-HĐND |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------------------- thành phố Đà Nẵng, ngày 04 tháng 12 năm 2008 |
NGHỊ QUYẾT
Về công tác dân số - kế hoạch hoá gia đình
trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đến năm 2010
__________________________
HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG,
KHOÁ VII, NHIỆM KỲ 2004 - 2009, KỲ HỌP THỨ 12
Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân ngày 26 tháng 11 năm 2003;
Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân ngày 03 tháng 12 năm 2004;
Căn cứ Chỉ thị số 23/2008/CT-TTg ngày 04 tháng 8 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc tiếp tục đẩy mạnh công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình;
Sau khi nghe Tờ trình số 7107/TTr - UBND ngày 14 tháng 11 năm 2008 của UBND thành phố về việc đề nghị HĐND thành phố thông qua Nghị quyết về công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đến năm 2010, báo cáo thẩm tra của Ban Văn hoá - Xã hội HĐND thành phố và ý kiến của các vị đại biểu HĐND thành phố;
QUYẾT NGHỊ:
Điều 1. Thống nhất nội dung Tờ trình số 7107/TTr-UBND ngày 14 tháng 11 năm 2008 của UBND thành phố về việc đề nghị HĐND thành phố thông qua Nghị quyết về công tác dân số - kế hoạch hoá gia đình (sau đây viết tắt là DS – KHHGĐ) trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đến năm 2010, cụ thể như sau:
I. Mục tiêu đến năm 2010
1. Mục tiêu chung
Thực hiện gia đình ít con, khoẻ mạnh, tiến tới ổn định qui mô dân số ở mức hợp lý; nâng cao chất lượng dân số, phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá - hiện đại hoá, thúc đẩy sự phát triển nhanh và bền vững của thành phố, góp phần phát triển đất nước.
2. Mục tiêu cụ thể
- Mức giảm sinh bình quân hằng năm là 0,3%0 ; duy trì mức sinh thay thế;
- Qui mô dân số thành phố Đà Nẵng dưới 1 triệu người;
- Giảm tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên còn 8,5%;
- Tăng tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại 1% mỗi năm;
- Giảm tối thiểu tỷ suất chết sơ sinh và chết mẹ;
- Giảm tỷ lệ phá thai xuống còn khoảng 40-50% (trên tổng số ca đẻ sống)
- Giảm tỉ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi xuống dưới 10%.
II. Giải pháp
1. Tăng cường sự lãnh đạo của chính quyền và vai trò của các cơ quan tham mưu. Bí thư, Chủ tịch UBND các quận, huyện xã, phường chịu trách nhiệm chỉ đạo công tác DS-KHHGĐ trên địa bàn phụ trách; cơ quan y tế các cấp chịu trách nhiệm tham mưu chính cho cấp uỷ, chính quyền.
Các địa phương nghiêm túc tổ chức sơ kết, kiểm điểm và tiếp tục tổ chức thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 47-NQ/TW ngày 22 tháng 3 năm 2005 của Bộ Chính trị, Chỉ thị số 23-CT/TU ngày 01 tháng 6 năm 2005 của Thành ủy; đồng thời, triển khai Chỉ thị số 23/2008/CT-TTg ngày 04 tháng 8 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về tiếp tục đẩy mạnh công tác DS-KHHGĐ. Trên cơ sở đó, xây dựng kế hoạch cụ thể để thực hiện công tác DS-KHHGĐ trong 2 năm 2009, 2010.
Cần quán triệt quan điểm: Công tác DS-KHHGĐ là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị; đồng thời là nhiệm vụ của toàn xã hội và mỗi gia đình, cá nhân. Vì vậy, chính quyền, Mặt trận, các đoàn thể phải coi công tác dân số là nhiệm vụ chính trị quan trọng, trọng tâm thường xuyên.
2. Tiếp tục tuyên truyền, phổ biến và quán triệt Nghị quyết số 47-NQ/TW của Bộ Chính trị, Chỉ thị số 23/2008/CT-TTg ngày 04/8/2008 của Thủ tướng Chính phủ và Chỉ thị số 23-CT/TU ngày 01 tháng 6 năm 2005 của Thành ủy về tiếp tục đẩy mạnh công tác DS-KHHGĐ, nhằm nâng cao nhận thức, củng cố quyết tâm tạo sự đồng thuận để tổ chức thực hiện cho được các mục tiêu đề ra.
Chú trọng công tác tuyên truyền, vận động trên các phương tiện thông tin đại chúng; tuyên truyền qua hệ thống chính trị (Mặt trận, các đoàn thể) để đưa các nội dung tuyên truyền đến từng gia đình và từng người trong gia đình. Mỗi địa phương cần xác định địa bàn trọng điểm, đối tượng trọng tâm để có kế hoạch truyền thông phù hợp.
Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu thực hiện chính sách DS-KHHGĐ; kịp thời khen thưởng, biểu dương những địa phương, tập thể, những cá nhân làm tốt công tác DS-KHHGĐ và xử lý nghiêm những cá nhân, đơn vị vi phạm.
3. Nhanh chóng kiện toàn tổ chức bộ máy và cán bộ làm công tác DS-KHHGĐ ở các cấp theo hướng chuyên sâu và ổn định lâu dài. Bộ máy tổ chức về DS-KHHGĐ ở cơ sở (quận, huyện, xã, phường) phải đảm bảo huy động được cả hệ thống chính trị vào cuộc; đảm bảo sự quản lý và chỉ đạo của Chính quyền cơ sở; Trung tâm DS-KHHGĐ quận, huyện phải gắn chặt với Phòng Y tế các quận, huyện và Trạm Y tế các xã, phường.
Từ nay đến cuối năm 2009 phải thực hiện xong việc kiện toàn tổ chức bộ máy về DS-KHHGĐ từ cấp thành phố đến quận, huyện, xã, phường.
4. Chấn chỉnh và nâng cao chất lượng công tác thu thập, xử lý và cung cấp thông tin, dữ liệu về dân số đảm bảo yêu cầu: chính xác, kịp thời, nhằm phục vụ tốt cho việc hoạch định các giải pháp về công tác DS-KHHGĐ và chính sách phát triển kinh tế - xã hội.
5. Đảm bảo đủ kinh phí cho hoạt động DS-KHHGĐ; không để xảy ra tình trạng không đạt kế hoạch về DS-KHHGĐ là do không đủ kinh phí. Tăng cường vận động các nguồn kinh phí ngoài ngân sách thông qua đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động DS-KHHGĐ.
6. Củng cố, tăng cường công tác phối hợp liên ngành trong việc thực hiện các hoạt động DS-KHHGĐ. Chú trọng huy động Mặt trận, các đoàn thể các cấp tham gia vào các hoạt động truyền thông, vận động.
7. Tăng cường công tác quản lý nhà nước, kiểm tra, giám sát, điều tra, thống kê tình hình thực hiện công tác DS – KHHGĐ; tổ chức thực hiện tốt các chương trình kinh tế - xã hội để hỗ trợ thực hiện tốt các mục tiêu về dân số.
Điều 2. Tổ chức thực hiện
Giao UBND thành phố tổ chức triển khai thực hiện nghị quyết này.
Nghị quyết này đã được HĐND thành phố khóa VII, nhiệm kỳ 2004-2009, kỳ họp thứ 12 thông qua ngày 04.12.2008./.