|
HĐND TỈNH BẾN TRE Số: 43/2001/NQ-HĐND |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------------------- tỉnh Bến Tre, ngày 19 tháng 07 năm 2001 |
HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
- Căn cứ vào Điều 120 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Chủ tịch Hội đồng Nhà nước nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam công bố ngày 18 tháng 4 năm 1992;
- Căn cứ vào Điều 12 và Điều 31 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân (sửa đổi) được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 21 tháng 6 năm 1994;
- Sau khi nghe Giám đốc Sở Khoa học, công nghệ và môi trường, Giám đốc Sở Địa chính, Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư, Phó Giám đốc Sở Xây dựng, đại diện Uỷ ban Bảo vệ và chăm sóc trẻ em được uỷ nhiệm của Uỷ ban nhân dân tỉnh trình bày báo cáo kết quả thực hiện giai đoạn 1996-2000 và kế hoạch 2001-2005 của các đề án, chương trình và quy hoạch của Uỷ ban nhân dân tỉnh trình tại kỳ họp thứ 5 Hội đồng nhân dân tỉnh - khoá VI;
- Sau khi nghe báo cáo thẩm định của các Ban Hội đồng nhân dân tỉnh và ý kiến của Đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh Bến Tre,
QUYẾT NGHỊ:
I. - Về sơ kết thực hiện các đề án phát triển khoa học công nghệ trong 3 năm 1998-2000 và kế hoạch 2001-2005:
Hội đồng nhân dân tỉnh thống nhất với đánh giá kết quả thực hiện Đề án phát triển khoa học công nghệ 1998-2000 và phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ, các giải pháp chủ yếu năm 2001-2005.
Giao Uỷ ban nhân dân tỉnh tiếp thu ý kiến của Đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh bổ sung, chấn chỉnh, cụ thể hoá và chỉ đạo các ngành, các cấp tổ chức thực hiện tốt Đề án trên. Trong quá trình thực hiện cần lưu ý:
- Gắn chặt kế hoạch phát triển khoa học công nghệ với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.
- Tập trung cho nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao công nghệ. Cần các định rõ trọng tâm và bước đi cho phù họp, đặc biệt là phải đổi mới nhanh công nghệ và trang thiết bị trong các lĩnh vực kinh tế mũi nhọn (thuỷ sản, vườn, chế biến), tổ chức nhân rộng các mô hình hiệu quả cao, các kết quả khoa học đã được kết luận.
- Tích cực tranh thủ sự hợp tác của các Trường, Viện tham gia thực hiện đề án song song với nâng cao tiềm lực và quy tụ đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ của tỉnh.
II. - Về hướng điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất tỉnh Bến Tre giai đoạn 2001-2005:
Hội đồng nhân dân tỉnh cơ bản thống nhất phương hướng điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất tỉnh Bến Tre giai đoạn 2001-2005.
Trong quá trình thực hiện quy hoạch cần lưu ý một số điểm sau:
- Việc chuyển đổi từ đất lúa, đất muối sang đất nuôi trồng thuỷ sản và đất vườn cây ăn trái cần được tiến hành theo dự án, tránh tự phát, cần có giải pháp đồng bộ như phát triển cơ sở hạ tầng, nguồn giống tốt, chuyển giao khoa học kỹ thuật, phát triển công nghiệp chế biến và mở rộng thị trường v.v…để đảm bảo cho quá trình chuyển đổi đúng hướng, có hiệu quả.
- Cần tính toán giá đất nuôi trồng thuỷ sản hợp lý để tránh thất thu thuế và tạo điều kiện cho người dân vay vốn phát triển sản xuất.
- Thực hiện tốt các phương án di dời, đền bù và ổn định nơi tái định cư cho nhân dân có đất được trưng dụng để thực hiện công trình.
III. - Về điều chỉnh, bổ sung quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bến Tre đến năm 2010:
Hội đồng nhân dân tỉnh nhất trí giao cho Uỷ ban nhân dân tỉnh điều chỉnh, bổ sung quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội hội đến năm 2010 và thống nhất phương án phát triển được chọn là phương án II là phương án phù hợp với Nghị quyết Đại hội VII Đảng bộ tỉnh: đến năm 2005 cơ cấu, nền kinh tế: khu vực I 55%, khu vực II 20%, khu vực III 25%.
Trong quá trình triển khai quy hoạch, Uỷ ban nhân dân tỉnh cần lưu ý các vấn đề sau:
- Đầu tư phát triển giao thông, phấn đấu tiến hành xây dựng sớm cầu vượt sông Tiền, hoàn chỉnh, nâng cấp quốc lộ 60 và quốc lộ 57 qua Vĩnh Long và hệ thống giao thông nội tỉnh.
- Phát huy tối đa nội lực và lợi thế so sánh của tỉnh, đồng thời cần tích cực tranh thủ sự hỗ trợ của Chính phủ và các Bộ, ngành Trung ương, các nguồn vốn bên ngoài.
- Bố trí cơ cấu kinh tế theo hướng phát huy thế mạnh kinh tế thuỷ sản, kinh tế vườn, tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ tạo bước đột phá trong phát triển và chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế.
- Có chiến lược lâu dài về phát triển nguồn nhân lực Bến Tre bao gồm nâng cao tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 40%, đẩy mạnh đào tạo cán bộ công chức nhất là đào tạo cán bộ chuyên gia giỏi về khoa học công nghệ, cán bộ quản lý trong mọi lĩnh vực, đội ngũ doanh nhân giỏi. Phát triển và ứng dụng mạnh công nghệ tin học.
- Có chính sách mở rộng liên doanh, liên kết đầu tư trong và ngoài nước, củng cố và mở rộng thị trường trong nước, trong khu vực và quốc tế.
- Kết hợp tăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, giữ vững an ninh, quốc phòng.
IV. - Về điều chỉnh quy hoạch chung thị xã Bến Tre tỉnh Bến Tre đến năm 2020 và định hướng xây dựng quỹ đất ở phục vụ tái định cư trên địa bàn thị xã Bến Tre (2001-2005):
- Hội đồng nhân dân tỉnh thống nhất chủ trương điều chỉnh quy hoạch chung thị xã Bến Tre tỉnh Bến Tre đến năm 2020 và quy hoạch xây dựng ngắn hạn đến năm 2005.
Giao cho Uỷ ban nhân dân tỉnh chấn chỉnh, bổ sung theo ý kiến đóng góp của Đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh, trình Bộ Xây dựng thoả thuận và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh phê duyệt triển khai thực hiện.
- Hội đồng nhân dân tỉnh thống nhất chủ trương và định hướng xây dựng quỹ đất ở phục vụ tái định cư trên địa bàn thị xã Bến Tre 2001-2005.
Trong quá trình triển khai thực hiện Uỷ ban nhân dân tỉnh cần cân đối một phần vốn ngân sách Nhà nước, tích cực huy động nguồn vốn khác, thực hiện nghiêm túc điều lệ quản lý xây dựng cơ bản, thông tin công khai các vấn đề có liên quan cho các hộ dân trong vùng dự án.
V. - Về chương trình hành động vì trẻ em tỉnh Bến Tre 2001-2010:
Hội đồng nhân dân tỉnh thống nhất cơ bản nội dung chương trình hành động vì trẻ em tỉnh Bến Tre 2001-2010.
Giao cho Uỷ ban nhân dân tỉnh bổ sung, chấn chỉnh một số vấn đề do Ban Văn hoá - xã hội và các Đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh góp ý: cụ thể hoá mục tiêu giai đoạn 2001-2005, cụ thể hoá các giải pháp nhất là giải pháp lồng ghép, phối hợp, giải pháp huy động sức mạnh của toàn xã hội trong bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em.
VI. -Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, các Ban Hội đồng nhân dân tỉnh, Đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh có nhiệm vụ giúp Hội đồng nhân dân tỉnh kiểm tra, giám sát việc thực hiện Nghị quyết này đúng chức năng, nhiệm vụ và đúng luật pháp hiện hành.
Nghị quyết này đã được Hội đồng nhân dân tỉnh khoá VI, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 13 tháng 7 năm 2001./.