Quay lại

Nghị quyết 20/2005/NQ-HĐND bổ sung một số giải pháp nhằm tiếp tục thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong 6 tháng cuối năm 2005

HĐND TỈNH BẾN TRE
-------

Số: 20/2005/NQ-HĐND

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------------------

tỉnh Bến Tre, ngày 07 tháng 07 năm 2005

KHOÁ VII-KỲ HỌP THỨ 4

- Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân ngày 26 tháng 11 năm 2003;

- Căn cứ vào Nghị quyết số 15/2004/NQ-HĐND ngày 28/12/2004 của Hội đồng nhân dân tỉnh khoá VII “về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2005”;

- Sau khi nghe báo cáo của Uỷ ban nhân dân tỉnh, báo cáo của các ngành chức năng, kiến nghị của Uỷ ban MTTQ Việt Nam tỉnh, thuyết trình của các Ban Hội đồng nhân dân tỉnh và ý kiến của Đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh,

QUYẾT NGHỊ:

Hội đồng nhân dân tỉnh thống nhất với báo cáo của Uỷ ban nhân dân tỉnh về “Tình hình thực hiện kế hoạch kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm và những nhiệm vụ, giải pháp thực hiện trong 6 tháng cuối năm 2005”.

I. Đánh giá tình hình kinh tế - xã hội 5 tháng đầu năm 2005.

Việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2005 ở Bến Tre gặp nhiều khó khăn như nắng hạn gay gắt, nước mặn xâm nhập sớm, độ mặn cao và kéo dài. Dịch cúm gia cầm tái phát gây thiệt hại nặng, giá một số vật tư, nhiên liệu tăng cao ảnh hưởng xấu đến sản xuất và đời sống nhân dân; thị trường xuất khẩu thuỷ sản có nhiều biến động bất lợi, nhưng Uỷ ban nhân dân tỉnh đã kịp thời có những giải pháp tập trung chỉ đạo, điều hành phù hợp, hạn chế khó khăn nên tình hình kinh tế - xã hội trong tỉnh tiếp tục phát triển. Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) 6 tháng đầu năm 2005 đạt 9,58%; chăn nuôi gia súc và nuôi trồng thuỷ sản vẫn phát triển. Cơ cấu cây trồng, vật nuôi tiếp tục được chuyển đổi theo hướng phù hợp với điều kiện sinh thái từng vùng, tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả. Mô hình trồng xen, nuôi xen trong vườn dừa tiếp tục được nhân rộng. Công nghiệp chế biến nhất là chế biến dừa đang tăng khá; xuất khẩu, thu ngân sách đều tăng so cùng kỳ. Vốn đầu tư phát triển tăng khá và được bố trí tập trung vào các nhiệm vụ trọng tâm; hệ thống giao thông, thuỷ lợi, điện, nước được đầu tư ngày càng cao và phát huy tác dụng tốt. Các hoạt động dịch vụ như thương mại, du lịch, vận tải, bưu chính viễn thông ngày càng mở rộng và chất lượng được nâng cao. Các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá, thể dục thể thao có nhiều chuyển biến tốt; số hộ nghèo được kéo giảm, đời sống nhân dân trên nhiều địa bàn được cải thiện. Quốc phòng, an ninh được củng cố.

Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) và nhiều chỉ tiêu phát triển kinh tế đạt thấp so Nghị quyết. Nhất là sản lượng thuỷ sản nuôi, kim ngạch xuất khẩu, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tỷ lệ hộ sử dụng điện vv … Đầu tư xây dựng cơ bản gặp nhiều khó khăn như: thiếu vốn để thanh toán khối lượng hoàn thành, nhất là nợ khối lượng kiên cố hoá trường lớp và đền bù giải phóng mặt bằng; các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Xây dựng của các Bộ ngành Trung ương thiếu cụ thể; giá vật tư, nhiên liệu tăng nên phải điều chỉnh lại hồ sơ thiết kế, bổ sung vốn đầu tư… đã ảnh hưởng đến tiến độ thi công. Việc sắp xếp đổi mới doanh nghiệp Nhà nước, vận động xây dựng thành lập hợp tác xã mới thực hiện chậm. việc cung cấp nước sinh hoạt chưa đảm bảo vệ sinh và bị nhiễm mặn trong mùa khô, nhất là vùng nông thôn. Về môi trường, nhất là môi trường nước ở một số vùng bị ô nhiễm nặng; chất lượng thực phẩm…chưa được kiểm soát chặt chẽ. Công tác đào tạo nghề phát triển còn chậm, chất lượng lao động được đào tạo chưa cao. Tình hình sinh con thứ 3 trở lên tăng cao ở một số huyện. Các tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông …còn nhiều. Đây là những vấn đề cần tập trung khắc phục trong 6 tháng cuối năm 2005.

II. Những giải pháp bổ sung để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 6 tháng cuối năm 2005.

Các nhiệm vụ và chỉ tiêu kế hoạch còn lại theo nghị quyết Hội đồng nhân dân tỉnh 6 tháng cuối năm 2005 là rất nặng nề, Hội đồng nhân dân tỉnh thống nhất các mục tiêu và giải pháp cụ thể mà Uỷ ban nhân dân tỉnh đưa ra, nhưng phải tập trung chỉ đạo, điều hành để các ngành, các địa phương thực hiện tốt Nghị quyết. Cần lưu ý trên một số lĩnh vực sau:

1. Trong lĩnh vực kinh tế:

- Sản xuất nông và thuỷ sản:

Phải tiếp tục đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hoá có chất lượng và hiệu quả, phù hợp với từng vùng; theo dõi, quản lý chặt dịch bệnh, chủ động phòng ngừa dịch cúm gia cầm tái phát, hướng dẫn nông dân khôi phục đàn gia cầm.

Việc nuôi thuỷ sản, đặc biệt là nuôi tôm cần quản lý chặt chẽ mùa vụ, chất lượng con giống, môi trường nuôi và dịch bệnh, có biện pháp phòng ngừa hiệu quả, hạn chế rủi ro; kết hợp tốt vai trò quản lý Nhà nước có sự giám sát của cộng đồng.

- Sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp:

Tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng Khu Công nghiệp Giao Long và An Hiệp để kêu gọi và thu hút đầu tư theo hướng vừa xây dựng hạ tầng, vừa bàn giao mặt bằng cho nhà đầu tư thuê đất để xây dựng; tiếp tục quy hoạch các cụm công nghiệp trên địa bàn huyện thị và triển khai xây dựng ở những nơi có điều kiện.

Thực hiện tốt các chính sách khuyến khích phát triển công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp: xác định chiến lược sản phẩm của ngành công nghiệp, có kế hoạch di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường ra khỏi nội ô thị xã. Đẩy mạnh hoạt động khuyến công nhằm hỗ trợ cho các làng nghề, ngành nghề nông thôn phát triển; hỗ trợ doanh nghiệp tăng cường công tác quảng bá, giới thiệu sản phẩm, mở rộng thị trường mới. Đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình điện khí hoá nông thôn; hoàn chỉnh quy hoạch cải tạo và phát triển nhanh lưới điện, đảm bảo bán điện đến tận hộ dân theo quy định giá trần của Chính phủ.

Thực hiện tốt đề án điều chỉnh sắp xếp doanh nghiệp Nhà nước được Chính phủ phê duyệt. Đồng thời củng cố, nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp Nhà nước.

- Về thương mại – du lịch:

Tăng cường hoạt động xúc tiến thương mại, tìm kiếm, mở rộng thị trường trong nước và xuất khẩu. Đẩy mạnh công tác quản lý, đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp các chợ theo kế hoạch; triển khai thực hiện quy hoạch tổng thể phát triển ngành thương mại tỉnh Bến Tre đến năm 2020; tổng kết Chương trình phát triển xuất khẩu 2001-2005. Đẩy mạnh xuất khẩu theo hướng tập trung xuất khẩu thuỷ sản, nhất là mặt hàng tôm; đồng thời tăng lượng xuất khẩu các sản phẩm từ dừa.

Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến du lịch. Hoàn chỉnh Quy hoạch phát triển du lịch tỉnh Bến Tre đến năm 2020; quy hoạch chi tiết các khu du lịch: Hưng Phong, Cồn Phụng; đầu tư xây dựng cơ sở vật chất phục vụ du lịch.

- Đầu tư xây dựng cơ bản:

Hội đồng nhân dân tỉnh đồng ý với Tờ trình số 1162/TTr-UBND của Uỷ ban nhân dân tỉnh về việc điều chỉnh vốn các công trình xây dựng cơ bản năm 2005.

Uỷ ban nhân dân tỉnh cần tiếp tục rà soát, bổ sung, điều chỉnh các chính sách khuyến khích đầu tư trong và ngoài nước trên địa bàn tỉnh, nhằm huy động mọi nguồn lực để tăng nhanh đầu tư phát triển theo hướng tăng tốc và đạt chỉ tiêu kế hoạch.

Đôn đốc các đơn vị thi công đẩy nhanh tiến độ thi công dự án theo hợp đồng đã ký kết; tăng cường năng lực và nâng cao trách nhiệm của các ban quản lý dự án trong công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ bản. Tiến hành rà soát tiến độ thi công các công trình và thực hiện báo cáo khối lượng hàng tháng để thanh toán; cân đối vốn ưu tiên cho khối lượng hoàn thành. Thực hiện tốt phương án bán đấu giá nhà đất công đã được phê duyệt để tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng.

Cần tiếp tục tranh thủ các Bộ ngành về cơ chế tạo vốn đầu tư cũng như đề nghị bổ sung, tạm ứng vốn cho các công trình trọng điểm giáo dục, y tế, giao thông, khu công nghiệp, thuỷ lợi, thuỷ sản, phát triển đô thị …

Có phương án vay vốn ngân hàng để đẩy nhanh tiến độ đầu tư kết cấu hạ tầng Khu Công nghiệp Giao Long và Cụm Công nghiệp An Hiệp, đáp ứng nhu cầu thuê mặt bằng xây dựng của các nhà đầu tư.

- Về tài chính: thực hiện thu đúng và đủ các khoản thuế, phí, lệ phí, các khoản thu khác vào ngân sách đúng quy định. Tăng cường các biện pháp xử lý nợ đọng và chống thất thu thuế; phấn đấu thu ngân sách trên địa bàn trong 6 tháng cuối năm đạt và vượt chỉ tiêu được giao. Đẩy nhanh tiến độ thanh toán khối lượng xây dựng cơ bản hoàn thành; thực hiện cân đối và giải quyết nhu cầu chi theo dự toán được giao từ đầu năm.

2. Trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá – xã hội:

- Về giáo dục –đào tạo: đẩy nhanh tiến độ thực hiện đề án kiên cố hoá trường lớp. Chuẩn bị tốt các điều kiện để triển khai tốt nhiệm vụ năm học 2005-2006. Tổ chức triển khai chương trình và sách giáo khoa mới lớp 4 và lớp 9 theo chỉ đạo của Trung ương. Có kế hoạch giải quyết số giáo viên dôi dư, tăng cường giáo dục đạo đức học sinh, tập trung phát triển giáo dục thường xuyên.

- Y tế: tăng cường các biện pháp phòng chống và giám sát chặt chẽ các dịch bệnh truyền nhiễm, nhất là sốt xuất huyết và Rubella; thường xuyên kiểm tra, đảm bảo chất lượng an toàn thực phẩm. Tích cực xử lý tình trạng ô nhiễm môi trường. Triển khai Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 46-NQ/TW của Bộ Chính trị về tăng cường công tác chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới; Quyết định số 222/2003/QĐ-TTg ngày 03/11/2003 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt chính sách quốc gia về y dược học cổ truyền đến năm 2010. Có các biện pháp hữu hiệu để giảm các trường hợp sinh con thứ 3, xử lý nghiêm các cán bộ, công chức vi phạm. Tạo sân chơi lành mạnh cho trẻ em, ngăn ngừa và giải quyết tình trạng trẻ em lang thang, trẻ em bị xâm hại.

- Văn hoá thông tin: tiếp tục nâng cao chất lượng công tác thông tin tuyên truyền. Tập trung thông tin, tuyên truyền phục vụ các ngày lễ, hội, Đại hội Đảng các cấp… Đẩy mạnh phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở; chú trọng nâng cao chất lượng các gia đình, ấp, cơ quan, đơn vị, xã văn hoá. Tăng cường kiểm tra, quản lý các hoạt động văn hoá, dịch vụ văn hoá góp phần đẩy lùi tệ nạn xã hội.

- Lao động việc làm và chính sách xã hội: đẩy mạnh công tác đào tạo nghề và xuất khẩu lao động. Tiến hành điều tra lao động, việc làm trên địa bàn tỉnh thời điểm 01/7/2005; tổng kết điều tra xác định hộ nghèo và bình nghị hộ nghèo. Xác minh và giải quyết hồ sơ thương binh liệt sỹ còn tồn đọng trong tháng 7/2005; tập trung thực hiện chi trả một lần cho người tham gia kháng chiến, gia đình có công cách mạng theo Nghị định số 59/CP và 69/CP.

3. Trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng và cải cách hành chính.

Thực hiện tốt các nhiệm vụ an ninh - quốc phòng, hoàn thành tốt công tác tuyển quân đợt II/2005; tăng cường phối hợp giữa Quân sự, Công an, Biên phòng với các ngành, địa phương trong công tác đấu tranh phòng chống, kéo giảm tội phạm, giữ vững an ninh – trật tự an toàn xã hội. Tăng cường hơn nữa công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật và các biện pháp tổng hợp để kéo giảm tai nạn giao thông.

Triển khai ứng dụng phần mềm dùng chung trong các cơ quan quản lý hành chính Nhà nước, tiếp tục đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, nhất là thực hiện tốt cơ chế “một cửa”.

III. Hội đồng nhân dân tỉnh giao cho Uỷ ban nhân dân tỉnh chịu trách nhiệm tổ chức triển khai trong các ngành, các cấp nhằm thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ nêu trên.

Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, các Ban Hội đồng nhân dân tỉnh có nhiệm vụ giúp Hội đồng nhân dân tỉnh kiểm tra, giám sát việc thực hiện Nghị quyết này.

Nghị quyết này đã được Hội đồng nhân dân tỉnh Bến Tre khoá VII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 28 tháng 6 năm 2005./.

T

Tổng quan văn bản

Số ký hiệu20/2005/NQ-HĐND
Ngày ban hành07/07/2005
Loại văn bảnNghị quyết
Ngày có hiệu lực28/06/2005
Nguồn thu thậpCơ sở dữ liệu
Ngày đăng công báo---
Cơ quan ban hành / Người kýHĐND tỉnh Vĩnh Long / Huỳnh Văn Be
Phạm viBến Tre
Trích yếuBổ sung một số giải pháp nhằm tiếp tục thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong 6 tháng cuối năm 2005
Tình trạng hiệu lựcHết hiệu lực toàn bộ

Chưa có thông tin lược đồ

Văn bản này hiện chưa được cập nhật dữ liệu về lược đồ liên quan.