Quay lại

Nghị quyết 186/2006/NQ-HĐND về nhiệm vụ đầu tư xây dựng cơ bản năm 2007

HĐND TỈNH HƯNG YÊN
-------

Số: 186/2006/NQ-HĐND

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------------------

tỉnh Hưng Yên, ngày 08 tháng 12 năm 2006

NGHỊ QUYẾT

Về nhiệm vụ đầu tư xây dựng cơ bản năm 2007

________________________

HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

KHÓA XIV - KỲ HỌP THỨ 7

Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND ngày 26/11/2003; Luật Ngân sách Nhà nước;

Căn cứ Quyết định số 1506/QĐ-TTg ngày14/11/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc giao dự toán ngân sách nhà nước; Quyết định số 161/QĐ-BKH ngày 15/11/2006 của Bộ Kế hoạch và đầu tư về việc giao chỉ tiêu kế hoạch đầu tư phát triển thuộc ngân sách nhà nước năm 2007;

Sau khi xem xét báo cáo số 89/BC-UBND ngày 02/12/2006 của Uỷ ban nhân dân tỉnh về tình hình thực hiện nhiệm vụ đầu tư XDCB năm 2006 và kế hoạch XDCB năm 2007; Báo cáo thẩm tra của Ban Kinh tế ngân sách và ý kiến của đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh,

QUYẾT NGHỊ:

I- Đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ đầu tư XDCB năm 2006:

Công tác đầu tư xây dựng cơ bản năm 2006 có tiến bộ, triển khai kế hoạch đảm bảo đúng các qui định hiện hành; cơ bản khắc phục tình trạng nợ đọng kéo dài, giảm đáng kể việc đầu tư dàn trải. Công tác chuẩn bị đầu tư, quá trình thực hiện đầu tư, quyết toán và cấp phát vốn thực hiện đảm bảo qui định; công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát được tăng cường, góp phần đẩy nhanh tiến độ, nâng cao chất lượng công trình.

Tổng nguồn vốn XDCB năm 2006 thuộc ngân sách Nhà nước là 402,7 tỷ đồng. Trong đó, ngân sách tập trung 131 tỷ đồng, thu từ tiền sử dụng đất 250 tỷ đồng, nguồn hỗ trợ theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ 21,7 tỷ đồng, được phân bổ cho 148 công trình; ước khối lượng thực hiện đến 31/12/2006 vượt khoảng 23,3% kế hoạch và giải ngân được 100% kế hoạch vốn năm.

Tuy nhiên, thực hiện nhiệm vụ đầu tư XDCB năm 2006 vẫn còn một số tồn tại, bất cập: Tiến độ triển khai một số dự án lớn, trọng điểm rất chậm, như các dự án sử dụng quỹ đất tạo vốn xây dựng cơ sở hạ tầng ở các huyện, thị xã; dự án sử dụng nguồn vốn hỗ trợ nước ngoài... do chủ đầu tư chưa tích cực, thiếu sự phối hợp giữa các ngành liên quan; hiệu quả đầu tư của một số công trình chưa cao như Chương trình nước sạch vệ sinh môi trường nông thôn.

Năng lực của chủ đầu tư chưa đáp ứng kịp với yêu cầu qui định, thể hiện về hiểu biết chính sách, pháp luật trong quản lý đầu tư xây dựng còn hạn chế dẫn đến thực hiện quyền hạn và trách nhiệm theo phân cấp còn nhiều lúng túng; chất lượng phê duyệt hồ sơ thiết kế dự toán một số công trình chưa đạt yêu cầu, phải chỉnh sửa, điều chỉnh bổ sung tổng mức đầu tư làm ảnh hưởng đến tiến độ và chất lượng công trình.

Đối với các huyện, thị xã, đội ngũ cán bộ kỹ thuật chuyên ngành còn thiếu và yếu, chưa thực hiện hết trách nhiệm, quyền hạn được phân cấp; công tác quản lý quy hoạch, quản lý đô thị, quản lý xây dựng ở các xã, phường, thị trấn còn buông lỏng, thiếu chặt chẽ; vẫn còn tình trạng đầu tư dàn trải, manh mún, thiếu đồng bộ.

II- Nhiệm vụ đầu tư XDCB năm 2007

Nguồn vốn ngân sách tập trung dành cho đầu tư phát triển được Trung ương phân bổ cho địa phương 486,453 tỷ đồng, bao gồm:

- Ngân sách tập trung 146,172 tỷ đồng (tỉnh quản lý 109,172 tỷ đồng; huyện, thị quản lý 37 tỷ đồng).

- Nguồn thu từ tiền sử dụng đất 230 tỷ đồng;

- Nguồn vốn các chương trình mục tiêu quốc gia 21,780 tỷ đồng;

- Nguồn vốn Trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu 63,501 tỷ đồng;

- Vốn nước ngoài ODA Chính phủ giao cho tỉnh vận động 25 tỷ đồng.

- Hỗ trợ doanh nghiệp cung cấp hàng hoá, dịch vụ công ích 2,480 triệu đồng; được phân bổ như sau:

A - Phân bổ 115.692 triệu đồng (trong đó: 106.692 triệu đồng nguồn ngân sách tập trung và 9.000 triệu đồng thu từ tiền sử dụng đất) đầu tư các lĩnh vực thuộc khu vực tỉnh quản lý:

1- Lĩnh vực nông nghiệp thuỷ lợi, gồm 9 công trình chuyển tiếp và 5 công trình mới: 17.800 triệu đồng.

2- Lĩnh vực giao thông vận tải, gồm 8 công trình chuyển tiếp và 2 công trình mới: 21.500 triệu đồng (có 1.900 triệu đồng tiền thu từ sử dụng đất).

3- Lĩnh vực y tế, gồm 6 công trình chuyển tiếp và 2 công trình mới: 10.900 triệu đồng (có 2.500 triệu đồng TTTSD đất).

4- Lĩnh vực giáo dục đào tạo, gồm 6 công trình chuyển tiếp và 6 công trình mới: 7.850 triệu đồng (có 400 triệu đồng TTTSD đất).

5- Lĩnh vực văn hoá - thể thao, gồm 5 công trình chuyển tiếp và 1 công trình mới: 4.600 triệu đồng.

6- Quản lý nhà nước, gồm 4 công trình chuyển tiếp và 2 công trình mới: 14.200 triệu đồng (có 3.000 triệu đồng TTTSD đất).

7- Đối ứng các công trình Trung ương và dự án ODA: 9.500 triệu đồng.

8- Công trình công cộng quốc phòng: 8.300 triệu đồng (có 1.200 triệu đồng TTTSD đất).

9- Quy hoạch, chuẩn bị đầu tư, thanh toán tồn đọng: 21.042 triệu đồng.

(Có danh mục chi tiết kèm theo).

B - Phân bổ nguồn vốn phân cấp các huyện, thị xã quyết định đầu tư: 258.000 triệu đồng; trong đó, nguồn ngân sách tập trung 37.000 triệu đồng, nguồn thu từ tiền sử dụng đất 221.000 triệu đồng (khối huyện 196.280 triệu đồng; khối xã 24.720 triệu đồng).


(Có danh mục chi tiết kèm theo).

III- Hội đồng nhân dân tỉnh lưu ý một số vấn đề cơ bản sau:

1- Cần tính toán kỹ khả năng nguồn vốn để chuẩn bị dự án đầu tư cho phù hợp với khả năng có thể cân đối được; tập trung vốn đầu tư các dự án quan trọng, cấp thiết, hạn chế đầu tư dàn trải; bố trí vốn đầu tư dứt điểm các công trình, dự án đã quá thời hạn qui định.

2- Nâng cao chất lượng công tác lập, thẩm định dự án, thiết kế kỹ thuật, dự toán, thanh quyết toán; hạn chế tối đa việc bổ sung không phải vì chế độ, chính sách, làm ảnh hưởng đến tiến độ và chất lượng công trình.

3- Đẩy mạnh kiện toàn, nâng cao năng lực cán bộ các phòng ban chuyên môn thuộc huyện, thị xã; nâng cao năng lực của các chủ đầu tư để đủ điều kiện thực hiện trách nhiệm và quyền hạn theo phân cấp trong quản lý đầu tư xây dựng.

4- Để tránh đầu tư dàn trải, nợ đọng kéo dài, trước khi trình Hội đồng nhân dân quyết định đầu tư, UBND các huyện, thị xã phải lập kế hoạch đầu tư cụ thể, báo cáo dự kiến danh mục các công trình dự án đầu tư, nêu rõ nguồn vốn và thời gian thực hiện. Sở Kế hoạch đầu tư có trách nhiệm tổng hợp, báo cáo UBND tỉnh danh mục đầu tư của các huyện, thị xã.

5- Tăng cường và nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát trong các khâu, trọng tâm vào giai đoạn thi công, nghiệm thu đảm bảo chất lượng và đúng thiết kế được duyệt; chống thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng; xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm quy định về quản lý đầu tư XDCB.

6- Đối với các nguồn bổ sung giữa năm, kể cả vốn vay; các khoản: quy hoạch khác, các dự án trong mục chuẩn bị đầu tư, các dự án khác và thanh toán khối lượng tồn đọng, vốn đối ứng các công trình Trung ương, vốn chương trình mục tiêu quốc gia phải báo cáo Hội đồng nhân dân tỉnh trước khi thực hiện. Trường hợp không đúng kỳ họp thì giao Thường trực Hội đồng nhân dân thống nhất với Ủy ban nhân dân quyết định phân bổ cụ thể tới từng dự án và báo cáo tại kỳ họp sau.

IV- Tổ chức triển khai thực hiện:

Hội đồng nhân dân tỉnh giao Uỷ ban nhân dân tỉnh tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết này.

Nghị quyết này được Hội đồng nhân dân tỉnh khoá XIV - kỳ họp thứ 7 thông qua.


Tổng quan văn bản

Số ký hiệu186/2006/NQ-HĐND
Ngày ban hành08/12/2006
Loại văn bảnNghị quyết
Ngày có hiệu lực08/12/2006
Nguồn thu thậpCơ sở dữ liệu
Ngày đăng công báo---
Cơ quan ban hành / Người kýHĐND tỉnh Hưng Yên / Nguyễn Đình Phách
Phạm viHưng Yên
Trích yếuVề nhiệm vụ đầu tư xây dựng cơ bản năm 2007
Tình trạng hiệu lựcHết hiệu lực toàn bộ

Chưa có thông tin lược đồ

Văn bản này hiện chưa được cập nhật dữ liệu về lược đồ liên quan.