|
HĐND TỈNH BÌNH PHƯỚC Số: 14/2011/NQ-HĐND |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------------------- tỉnh Bình Phước, ngày 16 tháng 12 năm 2011 |
NGHỊ QUYẾT
Về nhiệm vụ năm 2012
_____________
HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
KHÓA VIII, KỲ HỌP THỨ BA
Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ngày 26/11/2003;
Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân ngày 03/12/2004;
Xét báo cáo của Ủy ban nhân dân tỉnh và các cơ quan hữu quan, báo cáo thẩm tra của các Ban Hội đồng nhân dân tỉnh và ý kiến của các vị đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh,
QUYẾT NGHỊ:
Điều 1. Hội đồng nhân dân tỉnh thống nhất đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch, nhiệm vụ năm 2011 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2012 với các mục tiêu, giải pháp nêu trong báo cáo của Ủy ban nhân dân tỉnh và các cơ quan hữu quan. Trong đó, nhấn mạnh một số nội dung chủ yếu như sau:
1. Đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 2011
Trong bối cảnh khó khăn chung, thế giới có nhiều diễn biến phức tạp cả về chính trị và kinh tế, tốc độ phục hồi kinh tế của các nền kinh tế phát triển chậm; trong nước, lạm phát, lãi suất tín dụng tăng cao... nhưng tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh năm 2011 vẫn tiếp tục duy trì đà tăng trưởng khá do phát huy được lợi thế nông nghiệp. Có 17/18 chỉ tiêu đạt và vượt kế hoạch đề ra từ đầu năm, 1 chỉ tiêu không đạt là kim ngạch nhập khẩu (kế hoạch đề ra là 140 triệu USD, thực hiện 121,4 triệu USD, đạt 86,7%, tăng 5,5% so với cùng kỳ năm 2010). Ngành nông nghiệp tiếp tục phát triển ổn định, cây trồng vật nuôi sinh trưởng tốt; tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp cao, tuy còn gặp nhiều khó khăn trong thu hút đầu tư, nguồn nhân lực, lạm phát, lãi suất tín dụng cao...; ngành dịch vụ đang có xu hướng phát triển đa dạng trên nhiều lĩnh vực; xuất khẩu tiếp tục được đẩy mạnh cả về giá trị lẫn thị trường; an sinh xã hội tiếp tục được bảo đảm; an ninh chính trị, trật tự xã hội được giữ vững; các lĩnh vực văn hóa - xã hội luôn được quan tâm và có hướng phát triển tốt.
Cùng với kết quả đạt được, quá trình phát triển luôn phải đối mặt với những khó khăn, thách thức nhất định, như: nguồn lực cho phát triển, đặc biệt là vốn xây dựng cơ bản từ ngân sách nhà nước hạn hẹp, khả năng huy động các nguồn lực ngoài ngân sách nhà nước thấp, chưa đủ tạo động lực mạnh mẽ để phát huy các lợi thế nhằm mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao, nguồn nhân lực cho sản xuất công nghiệp đang vẫn còn là vấn đề bức xúc hiện nay và cả những năm tới nếu không có những giải pháp cơ bản, lâu dài; tuy đã có các giải pháp kiềm chế nhưng lãi suất ngân hàng, giá nguyên liệu đầu vào, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) vẫn ở mức cao, gây khó khăn cho sản xuất công nghiệp, nhất là ngành chế biến điều của tỉnh; chỉ số năng lực cạnh tranh (PCI) ở mức thấp, cải cách thủ tục hành chính vẫn chưa chuyển biến nhiều; tình hình biến đổi khi hậu, thời tiết thất thường là những yếu tố tác động bất lợi đến sản xuất, kinh doanh, đồng thời làm cho đời sống, sinh hoạt của một bộ phận nhân dân gặp không ít khó khăn.
2. Mục tiêu tổng quát, chỉ tiêu chủ yếu năm 2012 và các giải pháp
a) Mục tiêu tổng quát:
Thực hiện tốt các giải pháp cơ bản để ổn định các cân đối lớn, kiềm chế lạm phát, bảo đảm an sinh xã hội, cải thiện đời sống nhân dân. Huy động tốt các nguồn lực của xã hội cho đầu tư phát triển. Nỗ lực phát huy các lợi thế, tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy sản xuất phát triển, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh, phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế bằng hoặc cao hơn năm 2011. Giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng - an ninh và trật tự an toàn xã hội.
b) Các chỉ tiêu chủ yếu của năm 2012:
Các chỉ tiêu kinh tế:
- Tổng giá trị gia tăng (GDP) tăng 13%, trong đó: khu vực nông, lâm, thủy sản tăng 5,5 - 6%; khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 22 - 23%; khu vực dịch vụ tăng 16%;
- GDP bình quân đầu người khoảng 33 triệu đồng;
- Kim ngạch xuất khẩu: 790 triệu USD (tăng 15% so với thực hiện năm 2011);
- Kim ngạch nhập khẩu: 133 triệu USD (tăng 10% so với thực hiện năm 2011);
- Tổng thu ngân sách 3.800 tỷ đồng (tăng 8,5% so với thực hiện năm 2011);
- Tổng chi ngân sách: 4.963 tỷ đồng (tăng 13% so với thực hiện năm 2011).
Các chỉ tiêu xã hội:
- Tỷ lệ giảm sinh duy trì ở mức 0,7%o;
- Tỷ lệ xã đạt phổ cập THCS đạt 100%;
- Giải quyết việc làm trên 29.400 lao động;
- Tỷ lệ lao động được đào tạo đạt 33%;
- Tỷ lệ giảm nghèo/năm là 1,3%;
- Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi còn 18%;
- Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị còn 3,5%;
- Tỷ lệ Trạm y tế xã có bác sỹ đạt 60%;
- Số giường bệnh trên 1 vạn dân đạt 21,5 giường;
- Số bác sỹ/vạn dân là 6,5 bác sỹ;
- Tỷ lệ hộ dân sử dụng điện lưới quốc gia đạt 92,5%.
Các chỉ tiêu môi trường:
- Tỷ lệ dân số được sử dụng nước hợp vệ sinh: 86%;
- Tỷ lệ che phủ rừng chung toàn tỉnh đạt 57,47% (trong đó tỷ lệ che phủ của rừng tự nhiên là 20,85%).
3. Các giải pháp
a) Về phát triển kinh tế:
- Tiếp tục thực hiện tốt các giải pháp để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, tồn tại, tạo điều kiện tối đa ổn định sản xuất, kinh doanh, kiềm chế lạm phát; sử dụng có hiệu quả nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, ưu tiên đầu tư các công trình, dự án trọng điểm; phấn đấu giữ vững tốc độ tăng trưởng kinh tế;
- Quán triệt và triển khai kịp thời, cụ thể các Nghị quyết của Trung ương về những giải pháp điều hành phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách năm 2012. Triển khai sâu rộng đến các ngành, các cấp việc xây dựng và thực hiện tốt kế hoạch hành động các chương trình đột phá theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh trong giai đoạn 2011 - 2015;
- Về phát triển nông nghiệp - nông thôn: tập trung thực hiện các giải pháp, như: hỗ trợ về vốn đầu tư, cây, con giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, chuyển giao khoa học kỹ thuật cho sản xuất nông nghiệp; có các nghiên cứu và biện pháp nhằm giảm nhẹ thiên tai, dịch bệnh và đối phó với biến đổi khí hậu cho trồng trọt và chăn nuôi. Triển khai thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ nông nghiệp, nông thôn và nông dân, trong đó chú trọng đến đào tạo nghề, tập huấn kỹ thuật, tạo việc làm cho nông dân, nâng cao năng suất lao động. Tạo điều kiện để nông dân dễ dàng tiếp cận các nguồn vốn tín dụng để phát triển sản xuất, đặc biệt là phát triển mô hình kinh tế trang trại và vùng nguyên liệu tập trung. Triển khai thực hiện tốt chương trình xây dựng nông thôn mới cho 20 xã theo đúng quy hoạch, đề án;
- Phát triển công nghiệp: Xây dựng và thực hiện có hiệu quả các giải pháp cụ thể phát triển công nghiệp theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh. Khuyến khích, tạo điều kiện cho doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất. Chú trọng phát triển công nghiệp chế biến nông sản theo hướng tăng quy mô, năng suất và đổi mới công nghệ, đặc biệt là những mặt hàng nông sản chủ lực của tỉnh; phát triển và nâng cao chất lượng sản xuất vật liệu xây dựng, đặc biệt là sản xuất xi măng; có kế hoạch bảo đảm ưu tiên cung cấp điện phục vụ sản xuất, kinh doanh;
Tăng cường công tác xúc tiến, quảng bá, cải cách thủ tục hành chính, phát huy các lợi thế của địa phương đẩy mạnh thu hút vốn đầu tư vào các khu, cụm công nghiệp đã đầu tư hạ tầng như Khu công nghiệp Chơn Thành, Khu công nghiệp Minh Hưng 3, Khu công nghiệp Bắc Đồng Phú, Khu kinh tế cửa khẩu Hoa Lư… theo đúng định hướng và có chọn lọc. Thường xuyên giám sát, kiểm tra việc thực hiện các dự án đầu tư của các nhà đầu tư đã được giao đất cho phát triển công nghiệp, kiên quyết xử lý nghiêm theo quy định pháp luật đối với các dự án không có khả năng thực hiện, các dự án triển khai không đúng tiến độ đã cam kết.
- Thương mại - dịch vụ: Phát triển các ngành dịch vụ, thương mại có giá trị gia tăng cao theo hướng nâng cao chất lượng, năng lực cạnh tranh. Tạo điều kiện mở rộng mạng lưới cung cấp dịch vụ thiết yếu, hệ thống bán lẻ, chú trọng đến khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Khai thác tốt thị trường có sức tiêu thụ lớn ở thị xã, thị trấn, thị tứ; ưu tiên, khuyến khích các nhà đầu tư thực hiện dự án thuộc ngành thương mại - dịch vụ. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”;
Tổ chức triển khai thực hiện tốt các biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng ưu thế, đặc biệt chú trọng tăng tỷ lệ xuất khẩu mặt hàng nông sản thành phẩm. Phối hợp tốt giữa nhà nước và doanh nghiệp xuất khẩu trong việc tích cực, chủ động mở rộng thị trường;
Tiếp tục kiểm soát tình hình giá cả, theo dõi biến động giá các mặt hàng thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống, thường xuyên kiểm soát thị trường nhằm tránh hiện tượng đầu cơ, nâng giá, chống buôn lậu, gian lận thương mại.
- Thu, chi ngân sách: Tăng cường khai thác các nguồn thu phát sinh, thu nợ đọng, có giải pháp thích hợp nhằm giảm tỷ lệ nợ đọng thuế. Tiếp tục thực hiện nghiêm chủ trương tiết kiệm trong chi thường xuyên, nâng cao kỷ luật tài chính, xây dựng và thực hiện cơ chế chi cho đầu tư phát triển từ nguồn vượt thu với tỷ lệ ưu tiên thích đáng;
- Phát triển doanh nghiệp: Bằng các giải pháp, chính sách ưu đãi và cải cách thủ tục hành chính, đặc biệt là các thủ tục cấp các loại giấy phép để cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư, kinh doanh; đẩy mạnh biện pháp nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh (PCI) của tỉnh, tạo môi trường thông thoáng, lành mạnh cho doanh nghiệp hoạt động;
Thực hiện cổ phần hóa, chuyển đổi các công ty sử dụng vốn nhà nước theo đúng lộ trình; rà soát, sắp xếp lại các dự án đầu tư theo hướng tập trung vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh chính để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh; tăng cường quản lý vốn và tài sản nhà nước tại các doanh nghiệp.
- Đầu tư phát triển: các cấp, các ngành triển khai và thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 1792/CT-TTg ngày 15/10/2011 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường quản lý đầu tư từ vốn ngân sách nhà nước và vốn trái phiếu Chính phủ;
Xây dựng các giải pháp khả thi nhằm huy động vốn đầu tư toàn xã hội cho phát triển; đa dạng các hình thức, phương thức đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng và xã hội hóa đầu tư trên một số lĩnh vực. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước; ưu tiên vốn cho các dự án đã hoàn thành đưa vào sử dụng nhưng chưa bố trí đủ vốn, các dự án chuyển tiếp, các dự án có khả năng hoàn thành đưa vào sử dụng trong năm, vốn cho giải phóng mặt bằng. Đối với các dự án khởi công mới chỉ bố trí cho các công trình đảm bảo thủ tục và hết sức cấp thiết (sau khi bố trí đủ vốn cho các công trình ưu tiên) như công trình đảm bảo giao thông, trường học, bệnh viện…;
Đôn đốc, tăng cường các biện pháp đẩy mạnh giải ngân vồn đầu tư xây dựng cơ bản, vốn các chương trình mục tiêu, chú trọng công tác giám sát, đánh giá đầu tư; tăng cường trách nhiệm các chủ đầu tư trong quản lý sử dụng vốn nhà nước và đảm bảo chất lượng công trình.
b) Về an sinh xã hội, các lĩnh vực văn hóa, xã hội:
- Thực hiện các chính sách an sinh xã hội kịp thời, đúng đối tượng, hiệu quả, đặc biệt quan tâm chăm lo cho người nghèo, người có thu nhập thấp và công tác xóa đói, giảm nghèo, giảm nguy cơ tái nghèo. Giải quyết tốt các vấn đề xã hội bức xúc;
- Củng cố, duy trì và phát huy kết quả phổ cập trung học cơ sở. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy học và thực hiện các biện pháp đồng bộ về đào tạo để phát triển nguồn nhân lực có chất lượng đáp ứng nhu cầu phát triển của tỉnh, hoàn thành và triển khai quy hoạch phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2010 - 2020. Triển khai thực hiện chương trình đột phá về đào tạo cán bộ và phát triển nguồn nhân lực. Tăng cường công tác xã hội hóa trong giáo dục và dạy nghề;
- Phát triển và nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân, chất lượng khám chữa bệnh. Mở rộng việc áp dụng chế độ luân phiên cán bộ y tế tăng cường cho tuyến dưới. Chủ động, tích cực triển khai công tác y tế dự phòng, không để dịch bệnh xảy ra trên diện rộng; lồng ghép các mục tiêu chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân vào công tác dân số. Chú trọng đầu tư, trang bị cho ngành y tế từ nguồn ngân sách nhà nước; xã hội hóa phù hợp để huy động các nguồn lực xã hội cho y tế, chăm sóc sức khỏe nhân dân, góp phần nâng số giường bệnh trên vạn dân đạt 21,5 giường.
- Nâng cao năng lực nghiên cứu, phát triển và ứng dụng khoa học và công nghệ vào sản xuất. Tạo điều kiện để khuyến khích, hỗ trợ ứng dụng và chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ kỹ thuật hiện đại vào sản xuất;
- Xây dựng kế hoạch, chương trình phát triển văn hóa gắn với phát triển du lịch và các hoạt động kinh tế. Tiếp tục tổ chức thực hiện có hiệu quả phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá". Đẩy mạnh công tác xã hội hóa văn hóa, thể dục thể thao. Tăng cường quản lý các lễ hội, hoạt động văn hoá, thể thao; không sử dụng ngân sách để tổ chức lễ hội. Tiếp tục nâng cao chất lượng các hoạt động thông tin, báo chí, xuất bản; tăng phủ sóng phát thanh, truyền hình tiếng dân tộc thiểu số tới các vùng sâu, vùng xa;
- Tiếp tục thực hiện các Chương trình, đề án bảo vệ, phát triển trẻ em; xây dựng môi trường sống an toàn, thân thiện với trẻ em; thực hiện Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2011 - 2020; Chương trình quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011- 2015. Triển khai thực hiện Chiến lược phát triển thanh niên Việt Nam giai đoạn 2011-2020; Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 - 2020;
- Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chính sách vùng đồng bào dân tộc thiểu số, trọng tâm là các chương trình hỗ trợ đất sản xuất;
- Tiếp tục thực hiện cải cách hành chính, trong đó tập trung cải cách thủ tục hành chính, nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cơ quan nhà nước và chính quyền các cấp. Tăng cường công tác phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hành chính.
c) Tài nguyên, môi trường và phát triển bền vững:
- Sử dụng hợp lý, có hiệu quả và bền vững tài nguyên, khoáng sản, môi trường; bảo đảm sự hài hòa giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường. Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục để nâng cao nhận thức về môi trường. Thường xuyên kiểm tra, thanh tra, phát hiện, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, đặc biệt là vấn đề bảo vệ môi trường ở các khu, cụm công nghiệp và khu đô thị;
- Tổ chức triển khai tốt Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu; nghiên cứu, khảo sát và đánh giá tác động của biến đổi khí hậu để đưa vào quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các ngành, địa phương;
- Kiểm soát chặt chẽ việc cấp phép và quản lý khai thác tài nguyên, khoáng sản. Tiếp tục thực hiện đồng bộ các giải pháp và đầu tư để bảo vệ và phát triển rừng hiện có; tăng cường bảo vệ rừng đặc dụng, rừng phòng hộ. Xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm pháp luật về quản lý, khai thác tài nguyên, khoáng sản, về quản lý và bảo vệ rừng.
d) Quốc phòng - an ninh:
Kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, đối ngoại với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội; đảm bảo xây dựng nền quốc phòng - an ninh vững mạnh; bảo vệ vững chắc tuyến biên giới, giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội. Tiếp tục thực hiện tốt đường lối đối ngoại, đặc biệt là đối với các tỉnh nước bạn Campuchia, Lào.
Điều 2. Giao Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức thực hiện; giao Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh, các Ban của Hội đồng nhân dân tỉnh và các vị đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh giám sát việc thực hiện.
Nghị quyết này đã được Hội đồng nhân dân tỉnh Bình Phước khóa VIII, kỳ họp thứ ba thông qua ngày 09 tháng 12 năm 2011 và có hiệu lực sau 10 ngày kể từ thông qua./.