Quay lại

Nghị quyết 12/2003/NQ-HĐ về Nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 2004

HĐND TỈNH HƯNG YÊN
-------

Số: 12/2003/NQ-HĐ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------------------

tỉnh Hưng Yên, ngày 10 tháng 12 năm 2003

NGHỊ QUYẾT

Về Nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 2004

________________

HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

KHÓA XIII - KỲ HỌP THỨ 10

Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND, Luật Ngân sách nhà nước (sửa đổi);

Căn cứ Quyết định số 242/2003/QĐ-TTg ngày 17/11/2003 của Thủ tướng Chính phủ giao dự toán ngân sách nhà nước năm 2004;

Quyết định số 191/2003/QĐ-BTC ngày 17/11/2003 của Bộ Tài chính về giao dự toán thu, chi ngân sách nhà nước năm 2004 tỉnh Hưng Yên;

Trên cơ sở xem xét các báo cáo của UBND tỉnh, của các cơ quan hữu quan, báo cáo thẩm tra của các ban và ý kiến của các đại biểu HĐND tỉnh.

QUYẾT NGHỊ:

HĐND tỉnh cơ bản tán thành nội dung các báo cáo đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2003 và mục tiêu, nhiệm vụ năm 2004 của UBND tỉnh, của các cơ quan hữu quan; đồng thời nhấn mạnh các vấn đề trọng tâm sau đây;

I. ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN KẾ HOẠCH NĂM 2003

Với sự phấn đấu nỗ lực của Đảng bộ, nhân dân, các cấp, các ngành, các doanh nghiệp, năm 2003 tỉnh ta đã hoàn thành căn bản các chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) 12,6% (kế hoạch 12,3%), giá trị sản xuất nông nghiệp tăng 5% (KH 5,5%); Giá trị sản xuất công nghiệp tăng 29,2% (KH 24%); giá trị các ngành dịch vụ tăng 15% (KH 16%); kim ngạch xuất khẩu đạt 103 triệu USD (KH 70 triệu USD); tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt 400 tỷ đồng (KH 311 tỷ đồng), trong đó thu nội địa 195 tỷ, thu từ hoạt động xuất nhập khẩu 205 tỷ; tổng nguồn vốn đầu tư toàn xã hội đạt 2.150 tỷ (năm 2002 đạt 1.749 tỷ). Thu nhập bình quân đầu người đạt 5,1 triệu đồng (tương đương 415 USD); cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch khá: nông nghiệp 35,3% - công nghiệp, xây dựng 33,2% - dịch vụ 31,5% (năm 2002 là 37 - 31,5 - 31,5%); giá trị thu được trên 1 ha canh tác đạt 35,2 triệu đồng; các lĩnh vực giáo dục và đào tạo, y tế, văn hóa thông tin, khoa học và công nghệ, thể dục thể thao tiếp tục có những chuyển biến; công tác xã hội được quan tâm và đạt nhiều kết quả, cơ cấu lao động chuyển dịch khá, tạo việc làm ổn định khoảng 2 vạn lao động, sửa chữa nâng cấp khoảng 100 nhà tình nghĩa, thực hiện tốt các chính sách và công tác cứu trợ xã hội; Quốc phòng an ninh được tăng cường, chính trị ổn định, trật tự an toàn xã hội đảm bảo; đời sống của nhân dân trong tỉnh tiếp tục được cải thiện và nâng lên.

HĐND tỉnh ghi nhận và biểu dương sự nỗ lực phấn đấu của các tầng lớp nhân dân, các tổ chức đoàn thể, các tổ chức kinh tế - xã hội và sự quản lý, chỉ đạo, điều hành của các cấp, các ngành đã góp phần tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh năm 2003.

Bên cạnh kết quả đạt được, còn bộc lộ những tồn tại, yếu kém: Tăng trưởng kinh tế và sức cạnh tranh các sản phẩm hàng hóa, chất lượng chưa cao; còn 2 chỉ tiêu căn bản là giá trị sản xuất nông nghiệp và các ngành dịch vụ không đạt kế hoạch; chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn chưa đồng đều, nhiều cơ sở còn chậm; tăng trưởng công nghiệp chưa tương xứng với số lượng doanh nghiệp đã được cấp phép đầu tư, nguồn vốn đã đầu tư để sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp so với tổng nguồn vốn khi đăng ký cấp phép còn thấp, tiến độ chậm; môi trường đầu tư và sản xuất kinh doanh còn nhiều vướng mắc, bất cập, thủ tục còn chồng chéo, rườm rà; triển khai sắp xếp đổi mới doanh nghiệp nhà nước chậm so với lộ trình Chính phủ đã phê duyệt, cônglớn; bố trí vốn đầu tư còn phân tán, dàn trải, nợ đọng chậm được thanh toán; phê duyệt, thẩm định một số dự án chưa đạt yêu cầu, không ít dự án phải điều chỉnh điều chỉnh bổ xung, quản lý còn nhiều thiếu sót, chậm được khắc phục, một số công trình không đảm bảo chất lượng và tiến độ; Dịch vụ du dịch chưa được đầu tư khai thác; Thu ngân sách nội địa chưa tương xứng với tăng trưởng, nhất là tăng trưởng công nghiệp; Quản lý, giám sát các nguồn thu chưa chặt chẽ, nhất là nguồn thu từ doanh nghiệp. Lĩnh vực văn hóa - xã hội còn có những mặt hạn chế và bức xúc: Chất lượng giáo dục chưa đáp ứng được yêu cầu; Việc dạy thêm, học thêm không đúng quy định chậm được khắc phục; đào tạo coogn nhân lành nghề chưa đáp ứng yêu cầu phát triển công nghiệp; Việc ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất và đời sống còn hạn chế, triển khai các dự án xử lý rác thải công nghiệp và độ thị còn quá chậm; Chất lượng khám chữa bệnh và ý thức phục vụ nhân dân còn nhiều tồn tại cần phải khắc phục; Tệ nghiện hút, cờ bạc còn xảy ra ở nhiều nơi, ý thức chấp hành luật lệ giao thông của người dân còn thấp; Cải cách hành chính tiến hành chưa đồng bộ, còn nhiều cầu, cấp trung gain gây phiền hà trong giải quyết công việc ở một số lĩnh vực, chấp hành các chỉ thị, quyết định của cấp trên chưa nghiêm túc, xác định trách nhiệm và xử lý vi phạm chưa kien quyết, cụ thể; Năng lực một bộ phận cán bộ còn hạn chế, tình trạng sách nhiễu trong giải quyết công việc của một bộ phận công chức chậm được phát hiện và kiên quyết xử lý.

II. NHỮNG MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NĂM 2004

Tỉnh ta đã vượt qua năm bản lề của kế hoạch 5 năm 2001 - 2005 với kết quả khả quan, song nhiệm vụ còn tồn lại của 2 năm rất lớn, để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2004, cần phân tích, đánh giá đầy đủ và có những giải pháp thật cụ thể để khắc phục những mặt còn tồn tại yếu kém, tậ trung chỉ đạo và tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu sau:

Những mục tiêu chủ yếu năm 2004, phấn đấu:

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) 12,7%

- Giá trị sản xuất nông nghiệp tăng 5 %

- Giá trị sản xuất công nghiệp tăng 27%

- Giá trị sản xuất các ngành dịch vụ tăng 15%

- Kim ngạch xuất khẩu đạt 115 triệu USD

- Thu NS đạt 542 tỷ đồng, (trong đó 270 tỷ thu từ hoạt động XNK)

- GDP bình quân đầu người đạt 5,7 triệu đồng, tương đương 465 USD

- Cơ cấu kinh tế NN0- CN, XD - DV: 34% - 34,5% -31,5%

- Giá trị thu được trên 1 ha canh tác: 37 triệu đồng

- Tỷ lệ phát triển dâ số giữ mức 1,0%

- Tỷ lệ hộ nghèo 4,4%

- Tạo thêm việc làm mới cho khoảng 2 vạn lao động

- Tỷ lệ trạm xá xã có bác sỹ 85%

- Tỷ lệ làng văn hóa đến hết năm 2004 đạt 50%.

Những nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu

1. Cần có cơ chế phù hợp huy động cao mọi nguồn vốn toàn xã hội cho đầu tư phát triển, đảm bảo sự tăng trưởng bền vững; chú trọng nguồn lực trong nhân dân và trong các doanh nghiệp; Quản lý chặt chẽ nguồn vốn từ đổi đất lấy công trình để đầu tư phát triển có hiệu quả; đồng thời phải gắn chặt với việc rà soát, điều chỉnh kịp thời quy hoạch kinh tế - xã hội, quy hoạch đất đai, quy hoạch đô thị, khai thác mọi lợi thế để đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với đô thị hóa.

2. Chỉ đạo chặt chẽ và có đinh hướng cụ thể cho từng vùng, từng cơ sở, nhất là ở vùng sâu vùng xa, đẩy mạnh chuyển dich cơ cấu kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn theo hướng nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh các sản phẩm hàng hóa; khuyến khích phát triển kinh tế trang trại đi đôi với nâng cao hiêu quả kinh tế; đảm bảo kế hoạch diện tích và cơ cấu cây trồng vụ đông; đẩy mạnh chuyển giao khoa học kỹ thuật công nghệ trực tiếp đến người sản xuất; nhân rộng mô hình 50 triệu đồng 1 ha canh tác; phát triển mạnh đàn gai súc, gia cầm và nuôi trồng thủy sản, phấn đấu tăng thêm 1.500 con bò sữa; Thực hiện tốt các dịch vụ phục vụ sản xuất như: Cung ứng giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, phát hiện và phòng trừ kịp thời sâu bệnh đối với cây trồng, vật nuôi để người nông dân yên tâm sản xuất; Nghiêm cấm và xử lý kiên quyết đối với những trường hợp bóc đất màu canh tác để làm vật liệu xây dựng và các mục địch khác; Hoàn thành việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp sau dồ thửa đổi ruộng; đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận đất ở khu vực thị xã và các thị trấn, thị tứ; chủ động xây dựng các phương án và thực hiện tốt nhiệm vụ phòng chống lụt bão.

3. Thực hiện có hiệu quả chính sách ưu đãi đầu tư, tạo mọi điều kiện thuận lợi để các dự án đầu tư vào địa bàn , nhất là địa bàn các huyện: Phù Cừ, Ân Thi, Tiên Lữ, Kim Động và Khoái Châu; Nâng cao trách nhiệm và chất lượng thẩm định trước khi phê duyệt dự án, đảm bảo năng lực đầu tư và hiêu quả sản xuất kinh doanh; Đồng thời kiểm tra, rà soát và xử lý nghiêm các dựu án đã quá thời gian nhưng chưa thực hiện đầu tư và những phát sinh trái quy định của pháp luật.

4. Thực hiện công khai, minh bạch trong quản lý sử dụng vốn đầu tưu XDCB từ nguồn ngân sách nhà nước; Tăng cường hơn nữa công tác thanh tra, quản lý chặt chẽ, chống thất thoát, lãng phí, tiêu cực trong hoạt động đầu tư, nhất là trong đầu tư xây dựng cơ bản, khắc phục đầu tư dàn trải, các dự án nhóm C nhất thiết không được kéo dài quá 2 năm. Nâng cao chất lượng thẩm định và giám sát, khắc phuc phải điều chỉnh nhiều lần. Khi phê duyệt dự án cần tính toán kỹ khả năng nguồn vốn có thể cân đối được, nhất là các dự án thuộc thẩm quyền cấp huyện quản lý, tránh tình trạng xây dựng vượt quá khả năng nguồn vốn đã bố trí trong kế hoạch. Đối với nguồn vốn xây dựng cơ bản phân cấp cho huyện, thị quản lý, UBND tỉnh hướng dẫn cụ thể để vừa đảm bảo đứng luật, vừa nâng cao trách nhiệm, thẩm quyền và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư phát triển. Trong phân bổ vốn ưu tiên các công trình đã hoàn thành, các công trình chuyển tiếp, các công trình trọng điểm, bức thiết phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng một số công trình , dự án trọng điểm: đường 54m qua thị xã Hưng Yên, 2 công viên An Vũ - Lò Nồi, trụ sở làm việc tỉnh ủy, đoàn ĐBQH - HĐND và UBND tỉnh, quảng trường, đường 200m sau khi đã khẳng định rõ tuyến đường cao tốc từ cầu Thanh Trì và đường 39B.

5. Năm 2004 hoàn thành xây dựng đồng bộ hạ tầng kỹ thuật một khu công nghiệp tập trung, quy hoạch thêm từ 3-5 khu công nghiệp mới, hoàn tất thru tục trình Chính phủ quyết định thành lập tiếp các khu công nghiệp tập trung đã cso quy hoạch được phê duyệt; đẩy nhanh tiến độ xây dựng cơ sở hạ tầng các khu công nghiệp và đưa 10 cụm công nghiệp làng nghề tập trung đi vào hoạt động trong năm 2004. Thực hiện nghiêm túc lộ trình sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, xác nhận rõ trách nhiệm của từng cá nhân, doanh nghiệp đối với các khoản công nợ sau sắp xếp, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động các doanh nghiệp.

6. Đánh giá, rà soát lại tất cả các ngành dịch vụ; Tích cực tìm kiếm và mở rộng thị trường để đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp; đẩy mạnh xúc tiến thương mại và hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế; xây dựng và phát triển các trung tâm và mạng lưới kinh doanh thương mại, mạng lưới chợ, đặc biệt là chợ đầu mối phù hợp với nhu cầu thị trường và tạo sự chuyển biến mạnh mẽ các hoạt động dịch vụ du lịch.

7. Là năm đầu tiên triển khai thực hiện Luật Ngân sách nhà nước (sửa đổi), đồng thời phân cấp cụ thể nguồn thu, nhiệm vụ chi đối với từng cấp ngân sách thực hiện ổn định trong 3 năm. Đòi hỏi trách nhiệm và sự nỗ lực cao của từng cấp quản lý ngân sách, có nhiều biện pháp tích cực để chống thất thu, quản lý chặt chẽ nguồn thu, đặc biệt là nguồn thu từ các doanh nghiệp, đảm bảo thu đúng, thu đủ và kịp thời các khoản thu vào ngân sách nhà nước; Thực hiện nghiêm túc nhiệm vụ chi ngân sách nhà nước, chi đúng dự toán được duyệt và có hiệu quả; không thực hiện được chỉ tiêu thu thì giảm chi tương ứng. Chống tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự công trợ từ ngân sách cấp trên. Đẩy mạnh hoạt động các ngân hàng, tín dụng phục vụ có hiệu quả đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư phát triển của các doanh nghiệp và nhân dân.

8. Tập trung khắc phục có hiệu quả những mặt còn hạn chế và bức xúc trong lĩnh vực văn hóa - xã hội. Để nâng cao được chất lượng giáo dục, cùng với tiếp tục đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục, mỗi nhà trường, mỗi cấp học phải tăng cường kỷ luật kỷ cương, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý, đảm bảo đủ giáo viên ở các môn học, đáp ứng được yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông; khắc phục tình trạng dạy thêm, học thêm tràn lan; Đẩy mạnh đào tạo nghề, tạo việc làm cho người dân có đất chuyển đổi muc đích sử dụng phục vụ phát triển công nghiệp và đô thị; ứng dụng và chuyển giao có hiệu quả các tiến bộ khoa học kỹ thuật phục vụ sản xuất, đời sống và quản lý tốt vệ sinh môi trường; tăng cường cơ sở vật chất và tinh thần trách nhiệm phục vụ khám chữa bệnh cho nhân dân; đẩy mạnh thực hiện phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, xây dựng làng, khu phố và gia đình văn hóa; nâng cao chất lượng các hoạt động văn hóa, thông tin, phát thanh truyền hình, thể dục thề thao; Thực hiện tốt các chính sách xã hội cà phong trào ủng hộ quỹ vì người nghèo, phấn đấu đến hết năm 2005 xóa được 1.700 nhà tranh vách đất.

9. Thực hiện tốt nhiệm vụ quốc phòng an ninh. Đảm bảo kế hoạch và chất lượng huấn luyện, tuyển quân; Tăng cường lực lượng tấn công truy quét tội phạm, nhất là tội phạm có tổ chức, tệ nạn ma túy, cờ bạc, làm và buôn bán hàng giả; Hạn chế và từng bước đẩy lùi tai nạn giao thông; Giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Rà soát, phân loại và có biện pháp giải quyết căn bản các vụ án còn tồn đọng đã có hiệu lực pháp luật nhưng chưa được thi hành. Tạo thuận lợi để Tòa án cấp huyện có đủ điều kiện thực hiện thẩm quyền xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật đến mọi tầng lớp nhân dân.

Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong cải cách hành chính, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước và kỷ luật, kỷ cương trong bộ máy chính quyền các cấp; Triển khai thực hiện tốt cơ chế mở cửa theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ; Tập trung đẩy mạnh phân cấp, xây dựng đội ngũ cán bộ xã, phường, thị trấn đủ sức đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới; Tích cực đấu tranh và xử lý nghiêm minh các biểu hiện quan liêu, cửa quyền, tham nhũng, lãng phí, gây phiền hà cho nhân dân.

Tổ chức thắng lợi cuộc bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2004 - 2009 vào ngày 25/4/2004 đảm bảo đúng luật, tuyệt đối an toàn, thực sự trở thành ngày hội của toàn dân tham giá xây dựng chính quyền các cấp. Tổ chức tổng kết hoạt động HĐND và UBND các cấp nhiệm kỳ 1999 - 2004 nghiêm túc và chất lượng.

III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

HĐND giao UBND tỉnh tổ chức triển khai thực hiện và định kỳ báo cáo kết quả việc thực hiện Nghị quyết này.

Thường trực HĐND, các Ban và các đại biểu HĐND tỉnh nâng cao tinh thần trách nhiệm, tăng cường giám sát các cơ quan chấp hành và vận động nhân dân thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ kế hoạch năm 2004.

HĐND tỉnh kêu gọi toàn thể nhân dân, các cấp, các ngành, các tổ chức kinh tế, các lực lượng vũ trang trong tỉnh đẩy mạnh thi đua lao động sản xuất, công tác thực hiện thắng lợi nhiệm vụ năm 2004.

Nghị quyết này được HĐND tỉnh khóa XII - kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 10/12/2003/.

Tổng quan văn bản

Số ký hiệu12/2003/NQ-HĐ
Ngày ban hành10/12/2003
Loại văn bảnNghị quyết
Ngày có hiệu lực10/12/2003
Nguồn thu thậpCơ sở dữ liệu
Ngày đăng công báo---
Cơ quan ban hành / Người kýHĐND tỉnh Hưng Yên / Phạm Đình Phú
Phạm viHưng Yên
Trích yếuVề Nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 2004
Tình trạng hiệu lựcHết hiệu lực toàn bộ

Chưa có thông tin lược đồ

Văn bản này hiện chưa được cập nhật dữ liệu về lược đồ liên quan.