|
UBND TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU Số: 04/2001/NQ-HĐT |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------------------- tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, ngày 09 tháng 08 năm 2001 |
NGHỊ QUYẾT
Về nhiệm vụ kinh tế xã hội, an ninh - quốc phòng
của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu 6 tháng cuối năm 2001
__________
HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU
Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân (sửa đổi) được Quốc hội thông qua ngày 21 tháng 6 năm 1994;
Sau khi xem xét Báo cáo của Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban Nhân dân và các cơ quan hữu quan; Báo cáo thẩm định của các Ban HĐND tỉnh; Phát biểu của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; ý kiến kiến nghị của cử tri và ý kiến thảo luận của Đại biểu HĐND tại kỳ họp.
QUYẾT NGHỊ:
- Nhất trí với Báo cáo của Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh về hoạt động của Hội đồng nhân dân tỉnh trong 6 tháng đầu năm 2001 và chương trình công tác 6 tháng cuối năm.
- Tán thành Báo cáo của Ủy ban nhân dân tỉnh và các ngành về tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng và thực thi pháp luật 6 tháng đầu năm 2001 và một số nhiệm vụ, giải pháp cần tập trung thực hiện trong 6 tháng cuối năm.
I. Đánh giá tình hình kinh tế - xãhội của tỉnh 6 tháng đầu năm 2001:
Sáu tháng đầu năm, tuy vẫn còn không ít khó khăn, song với nỗ lực của nhân dân, của chính quyền, của các ngành các cấp, tỉnh nhà đã đạt được những thành tích đáng kể.
Tình hình kinh tế có những chuyển biến tích cực, tốc độ tăng trưởng khá. Hầu hết các ngành kinh tế đều đạt và vượt so với chỉ tiêu, sản xuất công nghiệp đạt mức tăng trưởng 18,8% cùng kỳ. Các hoạt động du lịch diễn ra sôi động hơn, số lượng khách du lịch tăng. Kim ngạch xuất khẩu đạt 59,7% kế hoạch. Đánh bắt, nuôi trồng và chế biến thủy sản có bước phát triển. Giá trị sản xuất nông nghiệp tăng 5,4%. Tiến độ thu ngân sách trên địa bàn đạt 68,3%. Nhiều chỉ tiêu về văn hóa, xã hội đạt và vượt kế hoạch. Chất lượng giáo dục - đào tạo có tiến bộ, số học sinh ngoài công lập tiếp tục tăng theo chủ trương xã hội hóa. Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân được quan tâm, không để xảy ra dịch bệnh. Mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân được nâng lên. Hệ thống thông tin liên lạc, đường giao thông, trạm y tế, trường học từng bước được mở rộng và đã cơ bản đáp ứng được nhu cầu của nhân dân. An ninh quốc phòng được giữ vững trật tự xã hội bảo đảm tạo được niềm tin trong nhân dân.
Tuy nhiên, 6 tháng đầu năm cũng còn không ít những hạn chế, yếu kém. Một số chỉ tiêu về kinh tế như: Tốc độ tăng trưởng GDP trừ dầu thô, doanh thu nội thương, xuất khẩu trừ dầu khí, tổng vốn đầu tư trên địa bàn chưa đạt như mức Nghị quyết đề ra cho cả năm. Chất lượng tăng trưởng của một số ngành kinh tế chưa cao, phát triển chưa có chiều sâu. Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp địa phương tăng trưởng còn thấp so với cả nước, sản lượng một số sản phẩm công nghiệp giảm sút. Tiêu thụ sản phẩm, nhất là nông phẩm còn rất nhiều khó khăn. Chỉ số giá cả hàng hóa và dịch vụ tiếp tục giảm, ảnh hưởng nhiều đến tăng trưởng kinh tế, đến thu nhập của 1 bộ phận nhân dân. Tình trạng giải ngân và tiến độ đầu tư xây dựng cơ bản còn rất chậm, một số công trình, dự án phải kéo dài. Việc cổ phần hóa các doanh nghiệp chưa đạt kế hoạch. Giải quyết việc làm, xuất khẩu lao động chưa đạt, xóa đói giảm nghèo chưa đạt được như mong muốn. Tệ nạn xã hội ngày càng gia tăng, số người nghiện ma túy, người nhiễm HIV đã ở con số báo động, số người chết và thương tật và tai nạn giao thông cao. Trật tự xã hội có những diễn biến phức tạp.
II. Một số nhiệm vụvà giải pháptrong 6 tháng cuối năm 2001.
HĐND tỉnh cơ bản nhất trí với các nhiệm vụ, giải pháp do UBND tỉnh đề ra cho 6 tháng cuối năm 2001 và nhấn mạnh một số vấn đề thuộc chủ trương, nhiệm vụ và giải pháp sau đây:
1. Trên cơ sở những ý kiến đóng góp của cử tri của đại biểu HĐND, ý kiến thẩm định của các Ban HĐND, ý kiến của UBMTTQ tại kỳ họp, UBND tỉnh cần có kế hoạch tổ chức thực hiện thật tốt để hoàn thành nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 2001 và chuẩn bị tốt xây dựng kế hoạch năm 2002.
2. Cần khắc phục việc chuẩn bị dự án giải tỏa đền bù, xử lý tình trạng giải ngân vốn chậm để đẩy nhanh tiến độ xây dựng cơ bản. Điều chuyển vốn từ các công trình triển khai chậm sang các công trình có nhu cầu bức thiết và đủ điều kiện nhận vốn, để sớm phát huy hiệu quả đầu tư. Thực hiện các quy định quản lý xây dựng cơ bản nâng cao chất lượng công trình, xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân có sai phạm. Công khai và quản lý tốt quy hoạch, xác định thời gian thực hiện để giảm bớt khó khăn cho nhân dân trong vùng quy hoạch. Chấn chỉnh công tác quản lý đô thị, chống lấn chiếm, xây dựng trái phép. Đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở, quyển sở hữu nhà ở.
3. Đồng ý chủ trương dùng vốn ngân sách để hỗ trợ lãi suất vốn vay cho chủ đầu tư xây dựng hạ tầng khu công nghiệp Đông Xuyên và khu công nghiệp Phú Mỹ trên cơ sở giá trị đầu tư được kiểm toán, nghiệm thu chặt chẽ. UBND tỉnh tính toán xác định cụ thể thời gian hỗ trợ lãi suất phù hợp với khả năng ngân sách và tình hình thực tế của đơn vị, xác định thời gian trả nợ gốc một cách hợp lý và tích cực tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp. Xây dựng cơ chế thông thoáng để thu hút các nhà đầu tư đến sản xuất kinh doanh.
4. Tập trung chỉ đạo việc sắp xếp đổi mới và phát triển doanh nghiệp Nhà nước, tiếp tục cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước với bước đi thích hợp. Quan tâm chỉ đạo khu vực kinh tế hợp tác và hợp tác xã, tạo mọi thuận lợi cho các thành phần kinh tế yên tâm đầu tư sản xuất kinh doanh.
5. Vấn đề ô nhiễm môi trường, rác thải đô thị là bức bách hiện nay cần có kế hoạch thật cụ thể từ nay đến cuối năm phải chuẩn bị đầy đủ hồ sơ dự án và thủ tục xây dựng cơ bản để đầu năm 2002 khởi công xây dựng nhà máy xử lý rác Phước Hòa.
6. Đẩy mạnh công tác phòng chống tệ nạn xã hội, quản lý thật tốt sau cấp phép đối với các hoạt động nhà hàng, quán bar, vũ trường, quán karaoke, cơ sở massage. Củng cố các đội kiểm tra chuyên ngành văn hóa, đội kiểm tra phòng chống tệ nạn xã hội tỉnh, huyện. Kiên quyết lập lại trật tự kỷ cương xã hội, xóa các tụ điểm mại dâm, tụ điểm ma túy. Tích cực ngăn ngừa tình trạng lây nhiễm HIV-AIDS. Ngăn chặn hữu hiệu tình trạng cướp giật, trộm cắp, quản lý tốt hơn trật tự giao thông.
7. Chấn chỉnh công tác tiếp dân, có phân công, phân cấp cụ thể cho các ngành, các cấp. Tập trung giải quyết các vụ khiếu nại đông người, các vụ khiếu nại kéo dài đúng pháp luật.
III. Về các tờtrình và kiến nghịcủaỦy ban nhân dân tỉnh.
Hội đồng Nhân dân tỉnh đồng ý cho thực hiện các nội dung tại tờ trình:
1. Tờ trình về việc điều chỉnh mức hoạt động phí cho cán bộ làm công tác văn hóa, truyền thanh; Phó Chủ tịch ủy ban Mặt trận và Phó các đoàn thể: Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh, Đoàn thanh niên Cộng sản Hổ Chí Minh ở xã, phường, thị trấn.
UBND tỉnh chủ động điều chỉnh khi mức lương tối thiểu có sự điều chỉnh.
2. Tờ trình về quy định mức phụ cấp cho công an viên; về tổ chức dân quân tự vệ xã, phường, thị trấn, thôn, ấp và quy định mức phụ cấp cho cán bộ thống kê, xã đội và cán bộ làm công tác quân sự ở thôn, ấp, khu phố.
3. Tờ trình về việc điều chỉnh mức lương định suất được hưỏng từ ngân sách tỉnh cho các đối tượng hợp đồng ngoài chỉ tiêu biên chế ở các chức danh: Nhân viên bảo vệ và nhân viên phục vụ ở các cơ quan, đơn vị, trường học thuộc khu vực HCSN khối Nhà nước.
4. Tờ trình về việc giải quyết trợ cấp thu hút đối với một số đối tượng công chức, viên chức công tác tại các địa bàn thực sự khó khăn và một số cơ quan, đơn vị thuộc tỉnh.
Trong đó các đối tượng đã hưởng trợ cấp theo Nghị định 35/CP không thêm trợ cấp thu hút.
5. Tờ trình về đề nghị phân bổ ngân sách tỉnh thực hiện việc hỗ trợ sửa chữa nhà cho đối tượng chính sách có công cách mạng theo Quyết định số 118/TTg.
Phấn đấu thực hiện xong trong năm 2003.
6. Tờ trình về mức đóng góp bằng tiền về ngày công nghĩa vụ lao động công ích.
7. Tờ trình về lập Quỹ giải quyết việc làm năm 2001 của tỉnh.
8. Tờ trình điều chỉnh mức trợ cấp hoạt động phí cho thôn, ấp, khu phố.
9. Tờ trình về chủ trương xây dựng 15 chương trình và công trình trọng điểm giai đoạn 2001-2005.
Bổ sung:
- Chương trình phòng chống tệ nạn ma túy, mại dâm, lây nhiễm HIV trên địa bàn tỉnh.
- Chương trình phát triển thương mại dịch vụ.
Trẽn cơ sở danh mục các chương trình và công trình trọng điểm của tỉnh giai đoạn 2001- 2005 được HĐND thông qua, UBND tỉnh tập trung chỉ đạo xây dựng các kế hoạch, nội dung cụ thể trình HĐND tỉnh phê chuẩn để tổ chức thực hiện. Phấn đấu chậm nhất cuối quý II năm 2002 thông qua tất cả các chương trình và báo cáo kết quả thực hiện với HĐND.
10. Tờ trình về xin chủ trương đầu tư một số tuyến đường ở TP. Vũng Tàu bằng nguồn vốn ngân sách tỉnh đi vay.
11. Tờ trình về bổ sung kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản năm 2001 bằng nguồn vốn ngân sách dự phòng và nguồn vốn vượt thu 2001 cho các công trình bức xúc.
12. Tờ trình về thành lập và ban hành Quy định quản lý thu, nộp và sử dụng quỹ An ninh - Quốc phòng trên địa bàn tỉnh.
Vể các tờ trình nói trên giao UBND nghiên cứu ý kiến đại biểu tại kỳ họp để điều chỉnh thông qua Thường trực và các ban HĐND trước khi ban hành.
13. Bổ sung chi thường xuyên trong 6 tháng cuối năm 2001 là 32,5 tỉ đồng theo đề nghị của UBND tỉnh giải quyết các nhu cầu bức xúc của địa phương hạn chế chi hành chính.
IV. Tổchức thực hiện:
Giao cho Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo xây dựng kế hoạch cụ thể, tìm các giải pháp đồng bộ, tổ chức triển khai thực hiện tốt Nghị quyết này.
Giao cho Thường trực Hội đồng nhân dân và các Ban Hội đồng nhân dân tỉnh tăng cường công tác giám sát, chấn chỉnh kịp thời những thiếu sót trong quá trình thực hiện Nghị quyết.
Đề nghị Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đoàn thể chính trị, xã hội tỉnh làm tốt vai trò giám sát và vận động mọi tầng lớp nhân dân tích cực tham gia cùng chính quyền các cấp, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế - xã hội 6 tháng cuối năm.
Nghị quyết này đã được Hội đồng nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu khóa III kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 9 tháng 8 năm 2001./.