|
HĐND TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU Số: 02/2000/NQ-HĐT |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------------------- tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, ngày 27 tháng 01 năm 2000 |
NGHỊ QUYẾT
Về phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội
của Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu năm 2000
___________
HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU
Căn cứ Luật Tổ chức Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân được Quốc hội thông qua ngày 21/6/1994.
Sau khi xem xét các báo cáo của Ủy ban nhân dân và các ngành, báo cáo thẩm định của các Ban Hội đồng nhân dân tỉnh, ý kiến đóng góp của cử tri, của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh và ý kiến thảo luận của đại biểu;
QUYẾT NGHỊ:
I. TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA TỈNH NĂM 1999
Hội đồng nhân dân tỉnh tán thành báo cáo của Ủy ban Nhân dân tỉnh về đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế xã hội và dự toán ngân sách của tỉnh năm 1999, cũng như báo cáo của các ngành tại kỳ họp.
Năm 1999, mặc dù gặp nhiều khó khăn, thách thức nhưng việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội của tỉnh vẫn đạt kết quả khá. Hầu hết các mục tiêu, chỉ tiêu về kinh tế - xã hội đều đạt và vượt mức kế hoạch đề ra. Tổng sản phẩm trong nước, giá trị sản xuất công nghiệp, dịch vụ, nông nghiệp, thủy sản, kim ngạch xuất khẩu, trồng rừng, thu ngân sách đều tăng so với kế hoạch năm. Đầu tư nước ngoài có chuyển biến, môi trường đầu tư ngày càng thông thoáng hơn. Một số doanh nghiệp mới được thành lập. Ngành công nghiệp và du lịch có thêm những năng lực lới. Mặc dù tổng vốn đầu tư trên địa bàn giảm, nhưng vốn đầu tư xây dựng cơ bản bằng các nguồn vốn ngân sách tỉnh vẫn tăng so với cùng kỳ. Ngân sách địa phương đã đáp ứng được hầu hết các nhiệm vụ chi theo dự toán và các nhu cầu phát sinh. Các chỉ tiêu về dân số, y tế đều vượt mức kế hoạch đề ra. Mức hưởng thụ văn hóa, hộ gia đình và ấp đạt tiêu chuẩn văn hóa tăng hơn so với năm trước. Các chính sách xã hội được thực hiện tốt. Đã hoàn thành vượt mức chỉ tiêu xây dựng nhà tình nghĩa và chăm sóc tốt các gia đình chính sách và Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Cuộc bầu cử Đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp của tỉnh đạt kết quả. An ninh quốc phòng được giữ vững và hoàn thành kế hoạch. Đó là kết quả của sự nỗ lực phấn đấu của nhân dân, của các cấp các ngành trong tỉnh.
Tuy nhiên, trên các lĩnh vực vẫn còn những tồn đọng và yếu kém. Một số ngành, lĩnh vực kinh tế hiệu quả hoạt động còn thấp. Các doanh nghiệp trong và ngoài quốc doanh thiếu phấn khởi trong làm ăn. vốn tín dụng tồn đọng còn lớn do thiếu dự án khả thi, có hiệu quả. Các doanh nghiệp Nhà nước của tỉnh hiệu quả kinh doanh thấp, khả năng mất vốn cao. Việc sắp xếp và đổi mới các doanh nghiệp Nhà nước chậm. Mối quan hệ tương hỗ giữa kinh tế Trung ương và địa phương trên địa bàn còn hạn chế. Một số nông sản khó tiêu thụ, giá bán thiếu ổn định, thị trường chưa được mở rộng. Nông dân, ngư dân chưa thực sự an tâm đầu tư vào sản xuất. Một bộ phận nhân dân đời sống còn khó khăn. Đề án phổ cập trung học cơ sở tiến hành chậm. Các tệ nạn ma túy và một số tội phạm nghiêm trọng có xu hướng gia tăng. Công tác cải cách thủ tục hành chính ở một số lĩnh vực chuyển biến chậm. Đó là những vấn đề bức xúc mà tỉnh phải nỗ lực giải quyết trong thời gian tới.
II. PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA TỈNH TRONG NĂM 2000
Hội đồng Nhân dân tỉnh nhất trí một số chỉ tiêu chủ yếu về kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước của tỉnh năm 2000. Đồng thời nhấn mạnh một số vấn đề về chủ trương, nhiệm vụ như sau:
A. Một số chỉ tiêu chủ yếu:
1. Chỉ tiêu về kinh tế:
- Tốc độ tăng trưởng GDP kể cả dầu và khí thô tăng từ 10 % trở lên, trừ dầu và khí thô tăng từ 6% trở lèn.
- Giá trị sản xuất công nghiệp kể cả dầu khí và thô tăng từ 9,7% trở lên, trừ dầu và khí tăng từ 11 % trở lên.
- Giá trị sản xuất nông nghiệp tăng từ 4,5 % trở lên.
- Giá trị sản xuất thủy hải sản tăng từ 8% trở lên.
- Giá trị các ngành dịch vụ tăng khoảng 5,3% trở lên, riêng dịch vụ du lịch tăng từ 6% trở lên.
- Kim ngạch xuất khẩu kể cả dầu thô giảm 4,5%; kim ngạch xuất khẩu trừ dầu thô tăng từ 11,2% trở lên so với năm 1999.
- Tổng thu ngân sách trên địa bàn tăng từ 16,3% trở lên, các nguồn thu (không kể dầu thô và thuế xuất nhập khầu) giảm 20,7%. Tổng chi ngân sách địa phương giảm 29,24% so với ước thực hiện năm 1999.
- Giữ nguyên các khoản chi (gồm 14 mục chi) theo chủ trương của địa phương đã được Hội dồng nhân dân Tỉnh khóa II thông qua trong năm 1999 với tổng số 31 tỷ đồng.
- Tổng số vốn đầu tư trên địa bàn tăng khoảng 12,9%, riêng các nguồn vốn của địa phương tăng khoảng 19,9%.
2. Chỉ tiêu về xã hội:
- Giảm tỷ lệ sinh 0,5 %o. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên khoảng 1,63%.
- Tạo đủ việc làm cho 25.000 lao động, trong đó có việc làm mới cho 5.000 lao động.
- Không để hộ đói phát sinh, giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn khoảng 8%.
- Tăng số cháu vào nhà trẻ 2%, mẫu giáo 5%, học sinh phổ thông 6%.
- Đẩy mạng thực hiện đề án phổ cập trung học cơ sở, hoàn thành phổ cập trung học cơ sở ở thành phố Vũng Tàu, thị xã Bà Rịa và một số thị trấn.
- Giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng xuống dưới 30%.
- Mức hưởng thụ văn hóa 16 lần/người/năm, tỷ lệ hộ đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa 70%, tỷ lệ thấp văn hóa đạt 45%
- Tỷ lệ dân được dùng nước sạch 75%; trong đó vùng nông thôn 70%. Tỷ lệ dân vùng nông thôn được dùng điện 85%.
- Xây dựng và sửa chữa 100 nhà tình nghĩa, xây mới 500 nhà tình thương bằng phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm.
- Đưa thêm 16 bác sĩ về xã để 100% số xã trong tỉnh đều có bác sĩ.
B. Một số chủ trương và nhiệm vụ:
1. Về kinh tế:
- Tiếp tục thực hiện đầu tư có trọng điểm theo địa bàn và lĩnh vực. Năm 2000, tập trung đầu tư cho huyện Long Đất, thị xã Bà Rịa và một số xã, phường còn khó khăn; ưu tiên đầu tư cho ngành du lịch và hải sản, giải quyết những yêu cầu bức xúc của ngành y tế và giáo dục, quan tâm đầu tư thích đáng cho ngành văn hóa - thông tin, thể dục - thể thao. Tăng cường các hoạt động kiểm tra giám sát để đảm bảo chất lượng các hạng mục công trình.
- Về bố trí nguồn vốn đầu tư qua ngân sách: Ưu tiên thanh toán cho các công trình đã hoàn thành nhưng còn nợ trong năm 1999 và các công trình chuyển tiếp, số vốn còn lại dành một phần để cấp hoặc cho vay với lãi suất thấp hoặc không lãi để đầu tư các công trình kinh tế có hiệu quả và các công trình thủy lợi có thu phí.
- Tiếp tục khuyến khích đầu tư và nâng cao hiệu quả đánh bắt hải sản xa bờ, chú trọng việc bảo quản và chế biến sản phẩm. Xây dựng mới một nhà máy chế biến hải sản cao cấp. Quy hoạch vùng nuôi và thí điểm nuôi hải sản xuất khẩu. Giao cho Sở Thủy sản xây dựng dự án phát triển nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh. Điều chỉnh quy hoạch nông lâm nghiệp trên cơ sở lợi thế so sánh và yếu tố thị trường. Xác định lại các vùng chuyên canh cây công nghiệp, cây ăn trái, chú trọng các nông sản có giá trị xuất khẩu. Nâng cao hơn nữa hoạt động khuyến nông. Nghiên cứu xây dựng mô hình liên kết giữa các doanh nghiệp có cơ sở chế biến và khả năng tiêu thụ sản phẩm với nông, ngư dân để giải quyết khâu tiêu thụ. Dành một phần vốn cho doanh nghiệp vay không tính lãi để hỗ trợ việc tiêu thụ hàng hóa. Quan hệ với Bộ Thủy sản để được hỗ trợ trong việc xây dựng các phương án nuôi trồng, chế biến để nâng cao chất lượng sản phẩm xuất khẩu. Triển khai thực hiện Nghị quyết của Chính phủ về phát triển kinh tế trang trại gia đình và một số vùng đất trống, đồi trọc để có thể làm trang trại lớn. Thực hiện rào rừng ở khu bảo tồn Bình Châu - Phước Bửu để bảo vệ có hiệu quả khu vực này. Đẩy mạnh kế hoạch trồng rừng, tăng cường công tác bảo vệ rừng. Tổ chức sơ kết 3 năm thực hiện Luật hợp tác xã để rút kinh nghiệm và tìm mô hình phát triển hợp tác xã một cách phù hợp.
- Triển khai thực hiện chương trình phát triển du lịch 1999 - 2000 mà Tỉnh ủy đã thông qua. Đầu tư kết cấu hạ tầng dự án 500 mét bờ biển bãi tắm Thùy Vân và thực hiện phương thức gọi vốn đầu tư khai thác. Góp vốn vào dự án cáp treo núi Nhỏ - núi Lớn, đồng thời tích cực tìm đối tác để sớm hình thành các khu du lịch dịch vụ trên núi nhằm khai thác có hiệu quả công trình cáp treo, tăng thêm doanh thu cho du lịch của tỉnh. Kết hợp phát triển du lịch với việc trùng tu, tôn tạo các di tích lịch sử, di tích văn hóa như Bạch Dinh, Thích ca Phật Đài, địa đạo Long Phước, núi Minh Đạm.
- Triển khai thực hiện Luật doanh nghiệp, đẩy nhanh tiến độ sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp. Kiên quyết xử lý dứt điểm các doanh nghiệp làm ăn yếu kém, thua lỗ kéo dài. Phấn đấu hoàn thành cổ phần hóa 8 doanh nghiệp Nhà nước, triển khai thực hiện Nghị định của Chính phủ về giao, bán, khoán và cho thuê các doanh nghiệp loại nhỏ. Quan tâm hỗ trợ tài chính đối với các doanh nghiệp của tỉnh hiện đang làm ăn có lãi hoặc có khả năng vươn lên. Tạo điều kiện thuận lợi để kêu gọi, thu hút đầu tư từ nước ngoài và các thành phần kinh tế khác để đầu tư vốn vào sản xuất kinh doanh trên địa bàn Tỉnh.
- Tiếp tục thực hiện việc phụ thu tiền nước để phát triển hệ thống thoát nước đô thị và phát triển cấp nước cho các vùng nông thôn như Tờ trình số 244/TT-UBT ngày 20/01/2000 của Ủy ban Nhân dân tỉnh, nhưng có xem xét miễn phụ thu đối với một số vùng và hộ gia đình có đời sống khó khăn. Tiếp tục thực hiện chủ trương Nhà nước và nhân dân cùng làm đường giao thông nông thôn theo tỷ lệ đã được công bố và thực hiện trong năm 1999.
- Thực hiện tốt giám sát tài chính đối với doanh nghiệp. Quan tâm bổ sung cho doanh nghiệp từ nguồn vốn doanh nghiệp nộp ngân sách trong một số năm đầu. Kiểm tra chặt chẽ việc sử dụng công quỹ của các đơn vị hành chính sự nghiệp, cải cách các quy trình thu thuế, xác định việc thu thuế đối với các hộ bán sỉ có doanh số lớn để thu thuế đúng và đủ.
- Có giải pháp hữu hiệu để đẩy nhanh việc giải ngân vốn tín dụng Nhà nước. Thông báo vốn của quỹ hỗ trợ tỉnh cho các thành phần kinh tế biết để lập đề án sản xuất kinh doanh và vay vốn. Khai thác các nguồn vốn tín dụng thương mại trên cơ sở có phương án vay và vốn vay khả thi. Triển khai rộng rãi việc cho vay vốn bằng tín chấp được quy định tại Mục III chương IV Nghị định 178/1999/NĐ-CP của Chính phủ.
- Có biện pháp hữu hiệu để kiểm soát ô nhiễm môi trường ở cơ sở công nghiệp, ô nhiễm ở các bãi biển, ô nhiễm từ các hoạt động chế biến hải sản. Tăng cường quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư cho khoa học công nghệ và môi trường. Tập trung cho những đề tài nghiên cứu chuyển giao, đổi mới công nghệ, nâng cao hàm lượng khoa học - công nghệ trong các lĩnh vực sản xuất. Hình thành quỹ phát triển khoa học - công nghệ môi trường.
Hội đồng Nhân dân Tỉnh dồng ý với các kiến nghị của Ủy ban Nhân dân Tỉnh về huy động và sử dụng vốn.
+ Đầu tư ngân sách vay vốn kích cầu xây dựng hạ tầng kinh tế, nhưng phải tính kỹ hiệu quả và có phương án thu hồi vốn trả nợ đúng thời gian.
+ Dùng vốn ngân sách cho vay không lãi hoặc lãi suất thấp, vay tín dụng của Nhà nước ngân sách chịu trả lãi một thời gian để đầu tư vực dậy một số ngành kinh tế mũi nhọn của Tỉnh đang gặp khó khăn, nhất là trong các lĩnh vực thuộc ngành hải sản, du lịch, làm hàng xuất khẩu, các xí nghiệp sản xuất sử dụng nhiều lao động.
+ Dùng vốn ngân sách đầu tư cơ sở hạ tầng, phục vụ kinh tế thuộc thế mạnh của Tỉnh và phục vụ xuất khẩu, tạo điều kiện để thu hút phát triển với tốc độ cao hơn.
+ Tiếp tục thực hiện các chính sách ưu đãi cho giáo viên, bác sĩ tình nguyện phục vụ ở vùng sâu, vùng xa, xây dựng một số nhà công vụ cho ngành y tế (có kèm theo trang thiết bị)
2. Về văn hóa - xã hội:
- Đẩy mạnh việc xã hội hóa các lĩnh vực giáo dục - đào tạo, y tế, văn hóa - thông tin và thể dục - thể thao. Có chích sách cụ thể để khuyến khích đầu tư xây dựng trường dân lập, bệnh viện, câu lạc bộ văn hóa, thể dục thể thao tư nhân. Có kế hoạch phát triển đông y trong khám và chữa những bệnh mà ngành này có ưu thế.
- Dành một khoản kinh phí tương đương mức chi năm 1999 để chi hỗ trợ cho các chương trinh mục tiêu quốc gia, trong đó đặc biệt chú ý cho phòng chống thệ nạn xã hội, phòng chống ma túy, phòng chống HIV/AIDS. Nghiên cứu điều chỉnh giảm mức đóng học phí cho học sinh hệ B ở các cấp học, trước hết là ở vùng xa, các xã nghèo. Quan tâm chăm lo cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn. Chấn chỉnh việc dạy thêm, học thêm ở các cấp học. Mở rộng quy mô, loại hình và ngành nghề đào tạo tại Trường dạy nghề của tỉnh, chú trọng chất lượng đào tạo và nhu cầu tuyển dụng lao động được đào tạo nghề của các doanh nghiệp. Hoàn thành ký túc xá cho sinh viên của tỉnh tại thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu chính sách khuyến khích và sử dụng sinh viên, học sinh giỏi của tỉnh để đào tạo và bổ sung cho đội ngũ cán bộ, công chức của Tỉnh trong thời gian tới.
- Triển khai thực hiện có hiệu quả Quyết định số 228/1999/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về vệ sinh, an toàn thực phẩm. Thường xuyên thanh tra, kiểm tra chất lượng các loại thực phẩm và thông báo để nhân dân biết tránh thiệt hại xảy ra đối với nhà sản xuất, kinh doanh và người tiêu dùng.
- Công tác xóa đói giảm nghèo phải được sơ kết đánh giá kết quả để nâng cao chất lượng hiệu quả của chương trình, tập trung việc xóa đói giảm nghèo ở 13 xã nghèo của Tỉnh. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Ngân hàng người nghèo cần khẩn trương triển khai việc cho nông dân nghèo vay vốn, cải tiến thủ tục cho vay thuận tiện hơn, các đơn vị nhận giúp xã nghèo cần có chương trình hợp tác giúp đỡ cụ thể hàng năm. Có chương trình nhằm giảm dần các cụm dân cư ở thị xã, thị trấn đang bế tắc trong giải quyết cuộc sống.
- Tổ chức trọng thể các ngày lễ lớn trong năm 2000 trang trọng, tiết kiệm, có, tác dụng giáo dục, đồng thời dấy lên phong trào thi đua sôi nổi nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ kinh tế - xã hội của Tỉnh. Bầu chọn các danh hiệu thi đua để tham gia đại hội anh hùng, chiến sĩ thi đua toàn quốc. Phối hợp với Ủy ban mặt trận tổ quốc tiếp tục thực hiện các cuộc vận động. Quan tâm thực hiện chính sách đối với người có công với nước, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng của Tỉnh.
3. An ninh - quốc phòng và thực thi luật pháp tại Tỉnh.
- Thực hiện nhiệm vụ tuyển quân năm 2000. Thường xuyên củng cố hệ thống quốc phòng toàn dân, mạng lưới an ninh nhân dân và nâng cao ý thức cảnh giác trong nhân dân đối với mọi âm mưu và hoạt động của các thế lực thù địch.
- Đẩy mạnh công tác phòng chống các tệ nạn xã hội, nhất là tệ nạn mại dâm và ma túy. Khuyến khích các tổ chức chính trị - xã hội tham gia công tác từ thiện, công tác phòng chống các tệ nạn xã hội. Tăng cường trang thiết bị và có chính sách đối với lực lượng tham gia công tác này. Thành lập lực lượng cảnh sát 113 (cảnh sát phản ứng nhanh).
- Tăng cường công tác quản lý nhân hộ khẩu, tập trung giải quyết hộ khẩu KT3 cho nhân dân. Triển khai thực hiện việc đổi giấy chứng minh nhân dân và có biện pháp tích cực nhằm giải quyết các hộ di dân tự do.
- Đẩy mạnh công tác phòng chống tham nhũng, buôn lậu, gian lận thương mại. Quan tâm củng cố ngành tư pháp. Trong năm 2000, phải bảo đảm đủ số lượng Hội thẩm nhân dân và tăng thêm số lượng Thẩm phán của tòa án nhân dân các cấp trong tỉnh để đáp ứng yêu cầu công tác xét xử.
- Tiếp tục thực hiện cải cách thủ tục hành chính, coi đây là nhiệm vụ thường xuyên của tất cả các cơ quan hành chính Nhà nước các cấp, đặc biệt là ở những ngành, những lĩnh vực tiếp xúc thường xuyên với công dân, người nước ngoài, doanh nghiệp.
III. Phê chuẩn quyết toán ngân sách Nhà nước của tỉnh năm 1998:
Sau khi thẩm định và xem xét theo Tờ trình số 142/UB-VP của Ủy ban nhân dân tỉnh ngày 13/01/2000, Hội đồng nhân dân tỉnh nhất trí phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước của tỉnh năm 1998.
IV. Hội đồng Nhân dân tỉnh khóa III giao cho Ủy ban Nhân dân tỉnh tổ chức thực hiện Nghị quyết này.
Thường trực Hội đồng nhân dân, các ban của Hội đồng nhân dân tỉnh giám sát việc thực hiện Nghị quyết.
Nghị quyết này đã được Hội đồng nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu khóa III kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 27 tháng 01 năm 2000.