|
BỘ
XÂY DỰNG
-------
|
CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 34/BXD-QLN
V/v: Trả lời công văn số 72/CV-CEO ngày
15/3/2011 của Công ty cổ phần đầu tư C.E.O.
|
Hà
Nội, ngày 25 tháng 4 năm 2011
|
Kính
gửi: Công ty cổ phần đầu tư C.E.O
Bộ Xây dựng nhận được văn bản số
72/CV-CEO ngày 15/3/2011 của Công ty cổ phần đầu tư C.E.O đề nghị Bộ Xây dựng
hướng dẫn việc thực hiện một số quy định tại Nghị định số 71/2010/NĐ-CP ngày
23/6/2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở. Sau
khi nghiên cứu, Bộ Xây dựng có ý kiến như sau:
1. Hiện nay, theo quy định của pháp luật nhà ở và pháp luật kinh doanh bất động sản thì chủ đầu tư vừa phải thông báo công khai tại sàn giao dịch bất động sản và trên phương tiện thông tin đại chúng các thông tin về nhà ở cần đưa vào giao dịch mua bán, vừa phải thông báo cho Sở Xây dựng nơi có bất động sản biết trước khi ký kết hợp đồng mua bán nhà ở. Quy định này nhằm mục đích công khai và minh bạch các thông tin liên quan đến bất động sản, từ đó giúp thị trường bất động sản phát triển lành mạnh, bền vững và hạn chế được các rủi do cho người dân, đồng thời để cơ quan có thẩm quyền thực hiện theo dõi và kiểm tra việc chấp hành pháp luật trong hoạt động kinh doanh, mua bán nhà ở giữa chủ đầu tư và khách hàng.
2. Nghị định số 71/2010/NĐ-CP chỉ quy định yêu cầu chủ đầu tư phải có văn bản thông báo về việc bán nhà ở cho Sở Xây dựng nơi có bất động sản biết trước khi ký hợp đồng mua bán chứ không yêu cầu phải có sự đồng ý hay chấp thuận của Sở Xây dựng thì chủ đầu tư mới được thực hiện giao dịch mua bán nhà ở. Vì vậy, quy định này không làm phát sinh thêm thủ tục hành chính như ý kiến của Công ty.
Nội dung văn bản thông báo cho Sở Xây dựng được quy định tại điểm e khoản 3 Điều 9 của Nghị định số 71/2010/NĐ-CP và được hướng dẫn cụ thể tại khoản 11 Điều 8 của Thông tư số 16/2010/TT-BXD ngày 01/9/2010 của Bộ Xây dựng về việc hướng dẫn thực hiện Nghị định số 71/2010/NĐ-CP.
Đề nghị Công ty cổ phần đầu tư C.E.O thực hiện theo đúng quy định của pháp luật./.
Nơi nhận:
- Như trên;
- TT Nguyễn Trần Nam (để b/cáo);
- Lưu: VP, Cục QLN (2b). | TL. BỘ TRƯỞNG
CỤC TRƯỞNG CỤC QUẢN LÝ NHÀ VÀ THỊ TRƯỞNG BẤT ĐỘNG SẢN
Nguyễn Mạnh Hà
Nghị định 71/2010/NĐ-CP hướng dẫn Luật nhà ở
Thông tư 16/2010/TT-BXD hướng dẫn Nghị định 71/2010/NĐ-CP về Luật nhà ở
Công văn 34/BXD-QLN về Trả lời công văn 72/CV-CEO do Bộ Xây dựng ban hành
3. Các chủ đầu tư quy định tại khoản 1 và khoản 2 điều này khi thực hiện huy động vốn để xây dựng nhà ở phải tuân thủ các điều kiện sau đây:
Điều 8. Huy động vốn để đầu tư xây dựng nhà ở thương mại
11. Đối với trường hợp huy động vốn theo các hình thức quy định tại các điểm b, c và điểm đ khoản 1 Điều 9 của Nghị định số 71/2010/NĐ-CP thì trước khi ký hợp đồng huy động vốn tối thiểu là 15 ngày, chủ đầu tư phải có văn bản nêu rõ các nội dung quy định tại điểm e khoản 3 Điều 9 của Nghị định số 71/2010/NĐ-CP để thông báo cho Sở Xây dựng biết (việc thông báo này là để Sở Xây dựng biết và theo dõi, kiểm tra, không yêu cầu phải có văn bản chấp thuận của Sở Xây dựng mới được ký hợp đồng). Trong trường hợp phát hiện chủ đầu tư thực hiện huy động vốn không đúng quy định tại Điều 9 của Nghị định số 71/2010/NĐ-CP và quy định tại Điều này thì Sở Xây dựng phải có văn bản yêu cầu chủ đầu tư dừng việc huy động vốn, huỷ bỏ các hợp đồng huy động vốn đã ký và thực hiện lại theo đúng quy định của pháp luật.
Điều 9. Huy động vốn để đầu tư xây dựng nhà ở
e) Đối với trường hợp huy động vốn theo hình thức quy định tại các điểm b, c và điểm đ khoản 1 điều này thì chủ đầu tư phải có văn bản thông báo cho Sở Xây dựng nơi có dự án phát triển nhà ở biết trước ít nhất 15 ngày, tính đến ngày ký hợp đồng huy động vốn.
Trong văn bản thông báo phải nêu rõ hình thức huy động vốn, số vốn cần huy động; trường hợp huy động vốn theo hình thức quy định tại điểm b khoản 1 điều này thì phải nêu rõ diện tích đất sẽ chuyển nhượng, tên chủ đầu tư nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất; trường hợp huy động vốn theo hình thức quy định tại điểm c khoản 1 điều này thì phải nêu rõ tên, địa chỉ của tổ chức, cá nhân tham gia góp vốn, hợp tác đầu tư, nếu có thỏa thuận phân chia sản phẩm là nhà ở thì phải nêu rõ số lượng, loại nhà ở sẽ phân chia, tên và địa chỉ của tổ chức, cá nhân được phân chia nhà ở; trường hợp huy động vốn theo hình thức quy định tại điểm đ khoản 1 điều này thì phải nêu rõ số lượng, loại nhà ở (nhà ở riêng lẻ, nhà biệt thự, căn hộ chung cư) và địa chỉ của nhà ở sẽ bán. Chủ đầu tư chỉ được ký hợp đồng huy động vốn hoặc hợp đồng mua bán nhà ở khi đã có đủ các điều kiện quy định tại điều này.