|
UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Số: 13/CT-UB |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ---------------------------- thành phố Hải Phòng, ngày 03 tháng 06 năm 2002 |
CHỈ THỊ
-----&------
Ngày 02/01/2001 Ban Thường vụ Thành uỷ ra Nghị quyết số 01/NQ-TU về định hướng chiến lược xuất khẩu và chương trình xuất khẩu của thành phố thời kỳ 2001-2005. Nghị quyết đã xác định mục tiêu giá trị kim ngạch xuất khẩu của thành phố đến năm 2005 đạt trên 760 triệu USD, tốc độ tăng trưởng bình quân thời kỳ 2001-2005 là 19% và thời kỳ năm 2005-2010 là 20% đạt từ 1.500 triệu USD đến 2.000 triệu USD vào năm 2010. Đồng thời Nghị quyết đã chỉ ra 10 chương trình xuất khẩu của thành phố cần tập trung triển khai trong giai đoạn 2001-2005 là:
1- Chương trình xuất khẩu thuỷ sản, nông sản - thực phẩm.
2- Chương trình xuất khẩu sản phẩm công nghiệp nặng, hoá chất, vật liệu xây dựng.
3- Chương trình xuất khẩu hàng da giầy.
4- Chương trình xuất khẩu hàng dệt may.
5- Chương trình xuất khẩu sản phẩm của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
6- Chương trình xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ.
7- Chương trình xuất khẩu hàng thu gom.
8- Chương trình phát triển các dịch vụ.
9- Chương trình đào tạo nguồn nhân lực, cán bộ làm công tác xuất khẩu và xuất khẩu lao động.
10- Chương trình về vốn đầu tư phát triển xuất khẩu.
Để thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 01/NQ-TU của Ban Thường vụ Thành uỷ về định hướng chiến lược xuất khẩu và chương trình xuất khẩu của thành phố thời kỳ 2001-2005, Uỷ ban nhân dân thành phố yêu cầu Sở Thương mại và các ngành liên quan thực hiện tốt một số công việc sau đây:
I- PHÂN CÔNG XÂY DỰNG VÀ THỰC HIỆN ĐỀ ÁN.
1. Sở Thương mại
- Giao Sở Thương mại là cơ quan thường trực giúp Uỷ ban nhân dân thành phố tổng hợp tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết phối hợp với các ngành, các cấp có liên quan báo cáo, đề xuất Uỷ ban nhân dân thành phố trong quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết.
- Xây dựng trang Website thương mại Hải Phòng để hỗ trợ các doanh nghiệp giới thiệu sản phẩm trên mạng, xúc tiến thương mại, đẩy mạnh xuất khẩu.
- Xây dựng các Đề án thực hiện đến năm 2005:
+ Xuất khẩu thực phẩm (thịt lợn) thuộc chương trình I.
+ Xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ thuộc chương trình VI.
+ Xuất khẩu hàng thu gom thuộc chương trình VII.
+ Chương trình đào tạo nguồn nhân lực, cán bộ làm công tác xuất khẩu và xuất khẩu lao động thuộc chương trình IX.
2- Sở Công nghiệp.
- Xây dựng các Đề án sau thực hiện đến năm 2005:
+ Xuất khẩu sản phẩm công nghiệp nặng, hoá chất, vật liệu xây dựng thuộc chương trình II.
+ Xuất khẩu hàng da giầy thuộc chương trình III.
+ Xuất khẩu hàng dệt - may thuộc chương trình IV.
3- Sở Thuỷ sản.
- Xây dựng Đề án thực hiện đến năm 2005:
+ Xuất khẩu hàng thuỷ sản thuộc chương trình I.
4- Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
- Xây dựng Đề án thực hiện đến năm 2005:
+ Xuất khẩu hàng nông sản (rau quả) thuộc chương trình I.
5- Sở Du lịch.
- Xây dựng các Đề án thực hiện đến năm 2005:
+ Phát triển các dịch vụ (chủ yếu dịch vụ du lịch) thuộc chương trình VIII.
6- Sở Kế hoạch và Đầu tư.
- Xây dựng các Đề án thực hiện đến năm 2005:
+ Xuất khẩu sản phẩm của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thuộc chương trình V.
+ Đề án về huy động các nguồn vốn đầu tư phát triển xuất khẩu thuộc chương trình X.
II- TỔ CHỨC THỰC HIỆN.
- Mỗi ngành được giao xây dựng chương trình đề án cần chủ động có kế hoạch phối hợp với các ngành, các đơn vị có liên quan và tranh thủ sự giúp đỡ của các cơ quan Trung ương để nghiên cứu xây dựng đề án cụ thể hoá 10 chương trình theo sự phân công nói trên. Các cơ quan chủ trì xây dựng đề án phải làm rõ về quy mô, kim ngạch, sản lượng, tốc độ tăng trưởng hàng năm, vị trí, vai trò của chương trình xuất khẩu của ngành trong chiến lược xuất khẩu của thành phố, của vùng và cả nước; làm rõ chủng loại, định hướng thị trường của sản phẩm và định hướng công nghệ. Dự kiến đối tượng, thời gian và các bước thực hiện xác định nhu cầu nhân lực, đất đai, nguồn vật tư, nguyên liệu, thiết bị, trong đó chỉ rõ loại nào sẽ được sản xuất ở Hải Phòng để nâng cao tỷ lệ nội địa hoá, chỉ rõ các giải pháp về quản lý, đào tạo, cơ chế chính sách huy động vốn và khuyến khích ưu đãi cần thiết của Chính phủ, của thành phố cho thực hiện mỗi chương trình. Đề xuất giá trị gia tăng tương đối và tuyệt đối có thể đạt được trong giai đoạn 2001-2005. Đảm bảo yêu cầu đặt ra là gia tăng tốc độ tăng trưởng các sản phẩm thuộc 10 chương trình, thời kỳ 2001 - 2005 đảm bảo tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của thành phố phải đạt được mức bình quân 19%.
- Các chương trình, đề án cần đón bắt tư tưởng chỉ đạo của Nghị quyết Trung ương 3 và Nghị quyết Trung ương 5 để đồng thời triển khai tích cực công tác sắp xếp đổi mới, phát triển doanh nghiệp nhà nước và các thành phần kinh tế, triệt để thực hiện cải cách thủ tục hành chính trong các cơ quan Nhà nước góp phần đẩy mạnh công tác xuất khẩu trên địa bàn thành phố.
- Thời gian nghiên cứu, tổng hợp, xây dựng đề án và báo cáo về Uỷ ban nhân dân thành phố trong tháng 7/2002.
T/M. ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
CHỦ TỊCH
(Đã ký)
Trần Huy Năng